Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

Ung thư vú khi đang mang thai: Những điều cần biết

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, cứ 3.000 phụ nữ mang thai thì có 1 ca ung thư vú. Ngoài ra, căn bệnh này cũng phổ biến trong thời kỳ mang thai, cho con bú và trong năm đầu tiên sinh con.


un thư vú

Sau đây là những thông tin cần biết liên quan đến ung thư vú trong giai đoạn mang thai, được các chuyên gia y tế chia sẻ trên trang tin foxnews ngày 12.10.

Ung thư vú khi đang mang thai: Phổ biến


Theo giáo sư, tiến sĩ Michael Pearl, giám đốc khoa ung thư phụ khoa, thuộc Trung tâm Ung thư Đại học Stony Brook ở New York (Mỹ), mang thai không phải là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư vú. Chỉ đơn giản là phụ nữ trong độ tuổi từ 15 - 44 là độ tuổi dễ mắc bệnh ung thư vú, cũng đang trong độ tuổi sinh sản và có nhiều khả năng có thai.

Phụ nữ mang thai cũng có xu hướng được chẩn đoán bệnh ung thư vú ở giai đoạn muộn hơn so với nhóm phụ nữ khác, do những thay đổi vú trong thai kỳ khiến họ không để ý tới. Ngực của phụ nữ mang thai thường lớn hơn, mềm hơn và cảm nhận khác hơn so với trước khi mang thai, vì vậy phụ nữ và bác sĩ có thể không cảm thấy có khối u ở vú.

Hơn nữa, các nhân viên y tế thường do dự trong việc sinh thiết hoặc chụp nhũ ảnh phụ nữ mang thai vì cho rằng nhóm phụ nữ này trẻ và khỏe mạnh.

Hóa trị: Tương đối an toàn


Ung thư vú là một căn bệnh rất dễ quản lý ngay cả khi nó đã lan rộng, tiến sĩ Jane Kakkis, giám đốc y tế của khoa phẫu thuật vú tại Trung tâm vú MemorialCare (Mỹ) cho biết.

Có lúc, hóa trị liệu được cho là làm tăng nguy cơ sẩy thai, sinh non hoặc dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Tuy nhiên, sau giai đoạn ba tháng đầu của thai kỳ, nghiên cứu cho thấy hóa trị liệu là tương đối an toàn.

Theo một nghiên cứu trình bày tại Hội nghị y tế Ung thư của Hiệp hội châu Âu, trên thực tế, trẻ bị phơi nhiễm với hóa trị liệu trong tử cung đã có sự phát triển về tinh thần và chức năng tim giống với trẻ không bị phơi nhiễm.

Tuy vậy, hóa trị liệu không hẳn là không có rủi ro. Trẻ sinh ra từ những bà mẹ được điều trị bằng hóa trị liệu có thể nhỏ con hơn. Ngoài ra, nếu hóa trị ngang qua nhau thai, nó có thể khiến các bé có lượng bạch cầu thấp hơn.

Có lựa chọn khác?


Khi quyết định thực hiện kế hoạch điều trị, điều quan trọng là phải xem xét những tác động điều trị có thể ảnh hưởng đến thai kỳ. Nếu bệnh nhân chưa muốn có con và việc mang thai có thể làm phức tạp quá trình điều trị bệnh, bệnh nhân có thể xem xét chấm dứt thai kỳ.

Có một số lựa chọn điều trị tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh ung thư. Ví dụ, phụ nữ có thể lựa chọn cắt bỏ khối u, hóa trị liệu và sau đó trì hoãn xạ trị cho đến sau khi sinh.

Theo giáo sư Pearl, các loại thuốc điều trị ung thư không bao giờ an toàn trong thai kỳ. Ngoài ra, những phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư vú viêm - một loại ung thư vú hiếm gặp, cần được điều trị ngay bởi vì bệnh tình có thể chuyển biến xấu rất nhanh.

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Yoga tốt cho điều trị sau ung thư vú

Một nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy 3 tháng tập yoga sẽ giúp bệnh nhân sống sót sau bệnh ung thư vú cắt giảm được cơn mệt mỏi đến 57%.


ung thư vú

Yoga không chỉ tốt cho bệnh nhân ung thư vú mà còn cả với người già


Nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học tại Trường đại học tiều bang Ohio (Mỹ) cho biết, tỷ lệ sống sót sau bệnh ung thư vú đang dần cải thiện, nhưng trải qua các đợt điều trị đã làm cho phụ nữ kiệt sức trong nhiều tháng hoặc nhiều năm sau đó.

Theo các nhà nghiên cứu, thí nghiệm thực tế cho thấy càng tập yoga càng giúp phụ nữ tăng cường năng lượng, và huyết áp liên quan đến chứng viêm sưng giảm đáng kể.

Giáo sư Janet Kiecolt-Glaser – nhà nghiên cứu tại Trường đại học tiểu bang Ohio, cho biết: “Phụ nữ nhận được nhiều lợi ích từ các bài tập thở của yoga, chẳng hạn giảm căng thẳng và ngủ ngon. Điều này sẽ giúp họ nâng cao chất lượng cuộc sống”.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Cảnh báo hóa chất trong mỹ phẩm có nguy cơ gây ung thư vú

Theo nghiên cứu, hóa chất parabens trong mỹ phẩm, đồ dùng cá nhân tiềm ẩn nhiều hóa chất độc hại, thậm chí có nguy cơ gây ung thư vú.


Giai đoạn đầu tiên của qúa trình thương mại hóa đã diễn ra vào những năm 1950. Khi đó, parabens là một loại hợp chất thường được sử dụng làm chất bảo quản trong hàng loạt các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, mỹ phẩm làm đẹp và đồ dùng chăm sóc cá nhân.

Mọi sản phẩm mà người tiêu dùng đang sử dụng có thành phần methylparaben, ethylparaben, Propylparaben, butylparaben và isobutylparaben đều chứa parabens. Những thành phần này được thêm vào các loại sản phẩm khử mùi, kem đánh răng, dầu gội, điều hòa, sữa dưỡng thể, đồ trang điểm và trong nhiều sản phẩm khác nhằm ngăn chặn quá tình phát triển của nấm, vi khuẩn và các sinh vật có khả năng gây hại khác. Tuy nhiên hóa chất parabens trong mỹ phẩm làm đẹp tiềm ẩn nguy cơ ung thư vú đối với người tiêu dùng

ung thư vú
Hóa chất parabens trong mỹ phẩm làm đẹp tiềm ẩn nguy cơ ung thư vú đối với người tiêu dùng.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, khoảng 90% các mặt hàng tiêu dùng đều chứa parabens. Đó là lý do vì sao ngay cả những người không sử dụng các sản phẩm chăm sóc cá nhân chứa hóa chất độc hại, vẫn có thể hít phải parabens vào máu.

Các chuyên gia y tế lo ngại, mặc dù khi dùng các sản phẩm riêng lẻ có hàm lượng parabens an toàn theo hạn định của Cục Quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ (FDA), tuy nhiên hóa chất tích lũy trong nhiều sản phẩm khác nhau có thể sẽ gây quá tải và dẫn đến các vấn đề về sức khỏe.

"Hậu quả nghiêm trọng nhất mà parabens gây ra là phá vỡ chức năng nội tiết tố làm tăng nguy cơ ung thư vú và vô sinh. Parabens mô phỏng estrogen bằng cách bám vào các thụ thể estrogen trong tế bào", theo báo cáo từ Chiến dịch phi lợi nhuận về mỹ phẩm an toàn (CSC).

Nghiên cứu cho thấy, trong một số trường hợp, hoạt động của estrogen có thể vượt quá mức bình thường gây ra phản ứng tăng lượng phân chia tế bào mẹ và hình thành khối u.

Ngoài ra, CSC còn trích dẫn một nghiên cứu của Anh năm 2004 phát hiện thấy dấu vết của năm hóa chất paraben trong các khối u vú của 19 trong số 20 phụ nữ được nghiên cứu. "Nghiên cứu nhỏ này không đủ để chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa paraben và ung thư vú, tuy nhiên điều quan trọng là sự xuất hiện của hợp chất parabens không hề thay đổi trong quá trình trao đổi chất, xâm nhập vào cơ thể qua da và lưu lại trong mô vú".

Một nghiên cứu gần đây cho biết thêm, hàm lượng paraben, n-Propylparaben, ở mức cao đọng trong nách gây nguy cơ u vú cao nhất. CSC còn cảnh báo, parabens cũng gây ra các vấn đề về sinh sản, miễn dịch, thần kinh và kích ứng da. "Nhiều nhà sản xuất mỹ phẩm tự nhiên đã tìm thấy giải pháp thay thế hiệu quả cho paraben nhằm ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật trong các sản phẩm chăm sóc cá nhân. Một số công ty đã tạo ra các sản phẩm chứa chất bảo quản có hạn sử dụng ngắn hơn thông thường (sáu tháng đến một năm), tuy nhiên nếu sử dụng hàng ngày người dùng có thể sử dụng hết trước hạn định", báo cáo của CSC cho hay. Tuy nhiên, cách tốt nhất để đảm bảo an toàn cho sức khỏe là người dùng nên kiểm tra kĩ nhãn mác trước khi quyết định sử dụng các sản phẩm hàng hóa, đồ dùng cá nhân.

10 công dụng chữa bệnh kỳ diệu của quả na

Quả na không chỉ tốt cho những người bị bệnh tim mà còn có tác dụng ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ung thư da.

Dưới đây là một số công dụng trị bệnh của quả na.

1. Bệnh hen


Na là trái cây có hàm lượng vitamin B6 cao, có tác dụng làm giảm các chứng viêm phổi và ngăn ngừa những cơn ho.

2. Bệnh tim


Hàm lượng magie trong quả na đem đến một trong những tác dụng tuyệt vời nhất cho sức khỏe, đó là ngăn ngừa những cơn đau tim.


3. Hệ tiêu hóa


Quả na có hàm lượng đồng và chất xơ có tác dụng tốt cho hệ tiêu hóa và giúp ngăn ngừa chứng táo bón.


4. Bệnh tiểu đường


Hàm lượng chất xơ trong quả na còn có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2.


bệnh ung thư

5. Giữ huyết áp ổn định


Quả na giàu kali và magie, hai khoáng chất có tác dụng điều hòa huyết áp cơ thể.


6. Làm giảm lượng cholesterol


Na chứa hàm lượng niacin và chất xơ cao nên có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong cơ thể.


7. Tốt cho người thiếu máu


Với hàm lượng sắt cao, na thực sự là một thực phẩm hữu ích dành cho người thiếu máu.


8. Chăm sóc đôi mắt


Na chứa riboflavin và vitamin C, hai yếu tố quan trọng nhất giúp bảo vệ đôi mắt.


9. Ngăn ngừa bệnh viêm khớp


Hàm lượng magie trong qua na có tác dụng cân bằng lượng nước trong cơ thể, loại bỏ axit ra khỏi các khớp và làm giảm nguy cơ bị bệnh viêm khớp.


10. Ngăn ngừa bệnh ung thư


Hợp chất acetogenin được tìm thấy trong quả na có tác dụng rất tốt trong việc điều trị tận gốc các thương tổn tiền ung thư da, qua đó, ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ung thư da.

Cholesterol càng cao, càng dễ bị ung thư vú

Cholesterol càng cao, càng dễ bị ung thư vú - Đây là kết quả nghiên cứu của hiệp hội Tim mạch Châu Âu (European Society of Cardiology) dựa trên kết quả khảo sát dữ liệu của hơn 1 triệu bệnh nhân trong suốt 14 năm qua.


Các chuyên gia thuộc hiệp hội Tim mạch Châu Âu (European Society of Cardiology) đã tiến hành khảo sát dữ liệu của hơn 1 triệu bệnh nhân ung thư vú trong suốt 14 năm.

Kết quả nghiên cứu được trình bày tại Frontiers trong hội nghị Tim mạch Y Sinh học 2014 - Barcelona, Tây Ban Nha (CardioVascular Biology - FCVB).

Theo các chuyên gia, đây là mới chỉ là nghiên cứu sơ bộ, chỉ ra rằng, những phụ nữ bị cao cholesterol trong máu có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn những phụ nữ bình thường khác. Để ngăn ngừa bệnh tim mạch và cả ung thư vú, phụ nữ nên dùng các loại thuốc giảm cholesterol như statin.

Tuy nhiên, rất thận trọng, các nhà khoa học đã cho biết, họ cần tiến hành nhiều nghiên cứu sâu hơn với cỡ mẫu lớn hơn và dài hơi hơn.

Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về mặt dân số học đã khẳng định, béo phì có liên quan mật thiết với căn bệnh ung thư vú.

Dựa vào nghiên cứu cơ bản trên, các chuyên gia tim mạch đã nghiên cứu sâu hơn. Họ đã nghiên cứu trên chuột, và nhận ra, béo phì có liên quan đến ung thư vú và điều này có thể là do cholesterol.

Bằng các công cụ thống kê, nghiên cứu của Hội Tim mạch Châu Âu kết luận tăng lipid trong máu (hyperlipidaemia) làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú lên đến 1,64 lần.

Ăn trứng luộc mỗi ngày: Mắt sáng, móng khoẻ, ngừa ung thư vú

Ăn một quả trứng luộc mỗi ngày sẽ giúp cải thiện thị lực, móng tay chắc khoẻ, xương chắc, và ngừa được ung thư vú.


ung thư vú 
Một quả trứng luộc tuy nhỏ nhưng chứa nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe


Theo Boldsky dẫn nguồn từ các chuyên gia sức khỏe, ăn một quả trứng mỗi ngày sẽ cung cấp năng lượng và giúp kiểm soát cơn đói. Trứng cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết cho sức khỏe như kali, chất sắt, kẽm, vitamin E và folate. Theo nghiên cứu, một quả trứng luộc chứa 6,29 gr protein và 78 calo.

Trứng luộc còn có một số công dụng như sau:


Cải thiện thị lực: Ăn trứng luộc thường xuyên giúp bổ sung các nguồn carotenoid tốt cho mắt như lutein và zeaxanthin. Các carotenoid này có tác dụng chống thoái hóa điểm vàng, một nguyên nhân phổ biến gây mất thị lực ở người lớn.

Tốt cho móng tay: Nguồn vitamin D cùng các khoáng chất và chất chống ô xy hóa có trong trứng giúp móng tay phát triển chắc khỏe.

Bảo vệ não: Trứng chứa nhiều choline, một hợp chất cần thiết bảo vệ chức năng não khỏe mạnh. Nạp choline giúp giảm nguy cơ mắc một số bệnh về não như Alzheimer (một dạng bệnh mất trí nhớ).

Duy trì cân nặng: Một quả trứng chỉ chứa gần 80 calo, đừng lo mập vì ăn trứng.

Củng cố xương: Vitamin D có trong trứng luộc thúc đẩy hấp thu canxi và điều chỉnh nồng độ canxi trong máu, đảm bảo bộ xương của bạn nạp đủ lượng canxi cần thiết để phát triển.

Ngừa ung thư vú: Những phụ nữ ăn ít nhất 6 quả trứng mỗi tuần được cho là giảm 44% nguy cơ bị ung thư vú.

Tốt cho máu: Theo nghiên cứu, ăn trứng luộc giúp ngừa máu vón cục. Ăn trứng luộc cũng tốt cho tim và giúp giảm nguy cơ bị đột quỵ.

Dùng thuốc ngừa thai liều cao dễ bị ung thư vú

Phụ nữ uống thuốc ngừa thai có nguy cơ gia tăng ung thư vú đến 50% so với những người không dùng, theo một nghiên cứu mới đăng trên chuyên san Nghiên cứu Ung thư của Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư (Mỹ).




ung thư vú 


Trang tin Daily Mail ngày 1.8 dẫn lời các nhà nghiên cứu Mỹ cho biết, một số loại thuốc ngừa thai chứa hoóc môn oestrogen liều cao có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú gấp 3 lần, so với những người chưa bao giờ dùng thuốc hoặc có dùng nhưng đã dừng.

Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, các loại thuốc chứa liều thấp hóc môn oestrogen không làm tăng nguy cơ mắc bệnh trên.

Tiến sĩ Elisabeth Beaber, Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson ở Seattle (Mỹ) cho biết: “Kết quả cho thấy việc sử dụng thuốc ngừa thai hiện đại trong những năm qua có liên quan với nguy cơ ung thư vú cao so với những người không bao giờ hoặc đã từng sử dụng thuốc ngừa thai. Nguy cơ này có thể thay đổi tùy theo công thức thuốc”.

Nghiên cứu trên liên quan đến 23.000 phụ nữ, trong đó có 1.102 người bị ung thư vú được chẩn đoán giai đoạn 1990-2009.

Tuy vậy, tiến sĩ Caroline Dalton tại Viện Ung thư Vú (Anh) nhận định: “Thuốc ngừa thai chứa nồng độ hóc môn oestrogen liều cao đã giảm trong vòng 30 năm qua”.

Còn bà Sarah Williams, thành viên Viện nghiên cứu ung thư (Anh) cũng nói rằng phụ nữ không nên ngừng uống thuốc ngừa thai trên cơ sở nghiên cứu này và thảo luận về bất kỳ mối quan tâm nào với bác sĩ hoặc gia đình