Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Để "nơi ấy" luôn hấp dẫn

Đối với chị em phụ nữ, việc vệ sinh sạch sẽ, để "nơi ấy" luôn hấp dẫn là việc rất quan trọng trong bảo vệ sức khỏe.


Đối với bệnh phụ khoa, việc phòng bệnh rất quan trọng. Phòng bệnh giúp giảm nguy cơ mắc và tái mắc bệnh viêm nhiễm phụ khoa là cách tốt nhất giúp tiết kiệm tiền bạc, bảo vệ sức khỏe và duy trì hạnh phúc lứa đôi. Việc thực hiện vệ sinh cá nhân là tối cần thiết để giảm khả năng bị nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới, hãy thực hiện bằng cách:

Vệ sinh vùng kín hàng ngày bằng dung dịch vệ sinh phụ nữ chuyên dụng, lau khô bằng khăn sạch, nhớ phải lau từ trước ra sau (hậu môn là cuối cùng). Luôn giữ cho bộ phận sinh dục ngoài khô, sạch.

Tránh mặc quần chật, thay quần lót thường xuyên. Không nên dùng nước bẩn có chứa nhiều vi sinh vật để rửa vùng kín. Không nên dùng xà bông hay các chất tẩy rửa mạnh... để vệ sinh vùng kín. Không tự thụt rửa âm đạo khi không có chỉ định của bác sĩ điều trị.

Thời kỳ kinh nguyệt, cần chọn băng vệ sinh đảm bảo sạch, đủ thấm, từ 4 - 6 giờ phải thay một lần.

Thực hành tình dục an toàn giúp tránh mắc hoặc tái mắc phải bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục do các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục. Nên sử dụng bao cao su cho mỗi lần quan hệ tình dục vì bao cao su vừa có tác dụng tránh thai, vừa ngăn ngừa được các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Vệ sinh tốt cho cả hai người trước và sau khi quan hệ tình dục.

Phụ nữ đang dùng kháng sinh, đang mang thai, dùng viên thuốc tránh thai kết hợp... là thời điểm thuận lợi cho các vi sinh vật có hại sống cộng sinh ở âm đạo dễ phát triển quá mức gây bệnh, vì vậy cần uống nhiều nước, không mặc đồ nilông, bó sát gây nóng, ẩm vùng kín.

Thực hiện việc khám phụ khoa định kỳ dù không có triệu chứng gì bất thường. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp viêm nhiễm tiến triển ở giai đoạn khá trầm trọng lại được phát hiện trong những lần khám phụ khoa.

Các chuyên gia phụ khoa đều khuyến cáo phụ nữ từ độ tuổi 18 trở lên nên đi khám phụ khoa ít nhất mỗi năm 2 lần. Việc thăm khám rất đơn giản, không gây đau và rất hiệu quả trong việc phát hiện các dấu hiệu viêm nhiễm hay tiền bệnh ung thư.

Không nên tự ý dùng thuốc, dùng không đủ liều, đúng liều... vì điều đó càng khiến cho bệnh nặng thêm, hay tái phát và khó điều trị dứt điểm.

AloBacsi.vn

Số bệnh nhân ung thư vú ở Việt Nam đang tăng

Tỉ lệ phụ nữ mắc ung thư vú tại VN đã gia tăng, từ 17,7/100.000 phụ nữ năm 2000 lên 29,9/100.000 phụ nữ gần đây.

Đó là nhận định của PGS.TS Trần Văn Thuấn, phó giám đốc BV K, cho biết trong buổi hội thảo do Quỹ hỗ trợ bệnh nhân ung thư - ngày mai tươi sáng tổ chức nhằm nâng cao hiểu biết cho người dân về bệnh ung thư vú chiều ngày 17/7.

Theo PGS Thuấn, mỗi năm VN có khoảng 14.000 ca ung thư vú mới, những người có nguy cơ mắc bệnh nhiều nhất là người sử dụng thuốc tránh thai trên 10 năm (nguy cơ cao gấp 2-4 lần); có chị em gái, mẹ mắc ung thư vú (nguy cơ cao gấp 6 lần), người thừa cân béo phì, người có chế độ ăn nhiều thịt, ít rau quả...

Ông Thuấn cũng cho biết các bác sĩ quốc tế khuyến cáo phụ nữ nên đi khám tầm soát ung thư vú từ sau tuổi 45, nhưng ở VN do tuổi phát hiện ung thư vú sớm hơn nên cần tầm soát ung thư sớm hơn.

Tại hội thảo về nguy cơ của tấm lợp amiăng với sức khỏe do Bộ Y tế, Bộ Khoa học - công nghệ tổ chức cùng ngày ở Hà Nội, bà Bùi Thị An - đại biểu Quốc hội - đã đề xuất mạnh tay cấm sử dụng tấm lợp amiăng tại VN trước năm 2020.

Bà An cho hay Bộ Y tế đã có dự thảo tờ trình Chính phủ đề xuất lộ trình cấm sử dụng amiăng trong quy hoạch phát triển ngành xây dựng đến năm 2030, đang được xây dựng, các bộ Y tế, Khoa học - công nghệ, Lao động - thương binh và xã hội, Tài nguyên - môi trường, Tổng liên đoàn Lao động VN đều thống nhất với đề nghị này, chỉ còn Bộ Công thương cần xem xét thêm và Bộ Xây dựng chưa thống nhất.
Tuy nhiên theo bà An, cần sớm cấm sử dụng amiăng tại VN do nguy cơ lớn đến sức khỏe, đặc biệt là các bệnh như ung thư trung biểu mô.

AloBacsi.vn

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

Cà rốt giúp giảm nguy cơ ung thư vú

Một nghiên cứu mới được xuất bản trên tạp chí của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ cho thấy, mức độ carotenoid trong máu của phụ nữ và bệnh ung thư vú có liên quan nhau, theo Healthland.


Tiến sĩ Heather Eliassen, Phó giáo sư Trường Y Harvard (Mỹ) và các cộng sự của bà đã đưa ra kết luận trên sau khi kiểm tra dữ liệu sức khỏe của khoảng 7.000 phụ nữ.

ca-rot-giup-giam-nguy-co-ung-thu-vu
Chất carotenoid được tìm thấy nhiều trong cà rốt - Ảnh: Shutterstock

Kết quả cho thấy những phụ nữ có mức độ carotenoid cao trong máu thì giảm rủi ro ung thư vú từ 15-20% so với những người có mức độ carotenoid thấp hơn.

Tiến sĩ Eliassen nhấn mạnh: “Mức độ carotenoid trong máu càng cao thì rủi ro ung thư vú càng thấp”.

Một giả thuyết được các nhà khoa học trong nhóm nghiên cứu đưa ra là chất carotenoid giúp cải thiện trao đổi giữa các tế bào, tăng cường chức năng hệ miễn dịch cũng như giúp cơ thể tiêu diệt các tế bào phát triển bất thường.

Carotenoid là một loại chất dinh dưỡng được tìm thấy trong rau quả màu đỏ, vàng và đậm như cà rốt, khoai lang, rau chân vịt và cải xoắn.

Theo Thanh Niên

Nốt ruồi càng nhiều, nguy cơ ung thư vú càng cao

Theo nhà nghiên cứu viên Jiali Han, chuyên gia về bệnh ung thư và dịch tễ học ở Trung tâm ung thư Melvin và Bren Simon, trường Đại học Indiana (Indianapolis, Hoa Kỳ), người ta vẫn biết số lượng nốt ruồi là yếu tố nguy cơ u ác tính nhưng đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu xác định nó liên quan với nguy cơ ung thư vú.
75.000 phụ nữ da trắng (Mỹ, 40 – 65 tuổi) đã tham gia vào nghiên cứu thứ nhất trong suốt 24 năm Mỗi phụ nữ đếm số nốt ruồi ở tay trái, giữa vai và cổ tay, những nốt ruồi có đường kính từ 3mm trở lên. Sau khi tính toán các yếu tố nguy cơ ung thư như tuổi có kinh lần đầu, có thai lần đầu và mãn kinh, họ phát hiện ra rằng phụ nữ có nhiều nốt ruồi nhất, trên 15 nốt, có nguy cơ ung thư vú cao hơn 35% so với nhhững phụ nữ không có nốt ruồi.

Nghiên cứu thứ 2 sử dụng số liệu thu thập từ gần 90.000 phụ nữ Pháp từ 39-66 tuổi trong 18 năm. Thay vì đếm, họ mô tả không có, ít, nhiều, hay rất nhiều. Kết quả cho thấy phụ nữ có rất nhiều nốt ruồi sẽ gia tăng nguy cơ bị ung thư vú nhiều hơn 13% hơn những phụ nữ không có nốt ruồi. Những mối liên hệ này không đảm bảo sau khi các nhà nghiên cứu xem xét tiểu sử bệnh ung thư vú và tiểu sử mắc u vú lành tính.

Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu phân tích nhóm nhỏ bao gồm chỉ những phụ nữ tiền mãn kinh, số liệu cho thấy những người có rất nhiều nốt ruồi có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú nhiều hơn 34% so với những người không có.

Các kết quả từ cả 2 nghiên cứu được công bố ngày 10/6 trên tạp chí PLOS Medicine.

Lí do cho rằng nốt ruồi không chỉ là một đặc điểm của da mà còn có thể là dấu hiệu của ung thư vú, là dựa trên mối quan hệ giữa nốt ruồi và hoóc-môn giới tính. Số lượng nốt ruồi có thể thể hiện được nồng độ hoóc-môn. Càng nhiều nốt ruồi thể hiện nồng độ estrogen và testosterone cao hơn.

Một hạn chế của cả hai nghiên cứu là nghiên cứu từ Mỹ chỉ bao gồm phụ nữ da trắng, trong khi nghiên cứu từ Pháp không ghi nhận số liệu về màu da. Do đó kết quả nghiên cứu có thể không áp dụng với những phụ nữ không phải là da trắng.

Han nói rằng còn quá sớm để dùng số lượng nốt ruồi làm công cụ chẩn đoán sàng lọc ung thư vú. Cần có nhiều nghiên cứu để đánh giá mối quan hệ mới này.

(Theo Dân trí)

Truy tìm gen gây nguy cơ ung thư vú

Sát thủ đeo nơ hồng, như cách mà mọi người gọi ví von căn bệnh ung thư vú có thể tấn công bất kỳ phụ nữ nào, đặc biệt khi họ có mang những gen lỗi nguy hiểm.

Sự kiện nữ diễn viên Angelina Jolie hy sinh bộ ngực của mình để ngừa ung thư vú  đã gây chú ý trên khắp thế giới. Mẹ cô mất do ung thư buồng trứng, dì Angenlina mất vì ung thư vú, bản thân cô cũng mang đột biến gen khiến dễ mắc hai loại ung thư này hơn người bình thường. Bài viết đề cập đến hai yếu tố được quan tâm là tiền căn gia đình và gen BRCA.

gen-gay-ung-thu-vu-1
Phụ nữ trên 40 nên làm các biện pháp tầm soát để phát hiện bệnh sớm.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Tiền căn gia đình và nguy cơ ung thư vú


Nếu trong gia đình có một người thân bị ung thư vú, nhất là thuộc mối quan hệ thứ 1 (mẹ, chị em gái hoặc con gái), nguy cơ bạn bị ung thư vú tăng gấp 2 lần so với người bình thường. Nguy cơ này sẽ tăng gấp 3 lần nếu bạn có 2 người thân mắc bệnh. Người ta chưa biết rõ nguyên nhân gây ra tình trạng này, có thể những người trong gia đình có cùng điều kiện sống và chia sẻ nhiều yếu tố gen giống nhau. Tuy nhiên, bạn không nên quá lo lắng về điều này, thống kê tại Mỹ cho thấy chưa đến 15% bệnh nhân ung thư vú có người thân cũng mắc bệnh ung thư vú. Còn theo khảo sát các bệnh nhân ung thư vú tại khoa Ung bướu, Bệnh viện Thủ Đức cho thấy chỉ khoảng 7% bệnh nhân là có người thân thứ nhất cũng bị ung thư vú.

Những người có người thân bị ung thư vú cũng có nguy cơ mang đột biến gen BRCA cao hơn những người khác.

Đột biến gen BRCA

gen-gay-ung-thu-vu-2
Nguồn ảnh: Internet

Đây là vấn đề thời sự. BRCA, bao gồm 2 gen BRCA1 và BRCA2, thực chất là gen gây ức chế khối u, giúp đảm bảo tính ổn định của AND và ngăn cản tế bào tăng trưởng không kiểm soát. Khi gen BRCA bị đột biến sẽ tạo điều kiện cho tế bào bất thường phát triển quá mức và dễ gây ung thư. BRCA liên quan tới cả ung thư vú và ung thư buồng trứng.

Thật ra các đột biến gen mang tính di truyền chỉ chiếm khoảng 5-10% các trường hợp ung thu vú, theo số liệu thống kê tại các nước Âu Mỹ. Việt Nam chưa có nghiên cứu lớn về vấn đề này nhưng từ nghiên cứu của các nước châu Á khác cho thấy tỷ lệ đột biến gen còn thấp hơn nữa. Như vậy, phần lớn các trường hợp ung thư vú đều xuất hiện riêng lẻ, do đó bạn không nên quá lo lắng về vấn đề này.

Ngoài ra, không phải ai mang đột biến gen cũng tiến triển thành ung thư, khả năng bị ung thư dao động rất lớn, từ 24-85%, gấp 4-6 lần so với người bình thường, tùy thuộc vào loại đột biến, tiền căn gia đình, bản thân…

Do đó, ngay cả với người mang đột biến gen BRCA, bác sĩ cũng không thể biết ai chắc chắn phát triển thành ung thư. Việc xác định gen BRCA đột biến không được khuyến khích cho tất cả mọi người. Theo Viên Ung thư Quốc gia Mỹ, chỉ những người có nguy cơ cao mang đột biến mới được xét nghiệm và công tác tư vấn trước và sau khi xét nghiệm phải do các bác sĩ chuyên khoa ung thư, di truyền đảm nhận, trong đó phải nêu rõ các cách giải quyết khi đón nhận kết quả.

Những trường hợp nên xét nghiệm gen


Nếu là một trong những trường hợp dưới đây, bạn có thể nghĩ tới việc xét nghiệm gen ung thư vú.

- Có 2 người thân thuộc mối quan hệ thứ nhất bị ung thư vú, trong đó 1 người mắc bệnh khi chưa đến 50 tuổi.
- Có từ 3 người thân trở lên thuộc mối quan hệ thứ nhất hoặc hai (bà, dì) bị ung thư vú.
- Có người thân thuộc mối quan hệ thứ nhất và hai bị ung thư vú và ung thư buồng trứng.
- Có người thân thuộc mối quan hệ thứ nhất bị ung thư cả 2 vú.
- Có từ hai người thân trở lên thuộc mối quan hệ thứ nhất hoặc thứ hai bị ung thư buồng trứng.
- Có người thân thuộc mối quan hệ thứ nhất hoặc hai bị ung thư vú và buồng trứng cùng lúc.
- Nhà có nam giới bị ung thư vú.

Khi xét nghiệm mà có đột biến gen BRCA không có nghĩa là bạn bị ung thư vú và ngược lại không mang gen BRCA đột biến cũng không đảm bảm là bạn có không có nguy cơ mắc ung thư vú.

Để phòng ngừa bệnh, bạn có thể chọn cách theo dõi sát, với các phương tiện chẩn đoán như siêu âm, nhũ ảnh và cả MRI tuyến vú cho phép phát hiện những thay đổi nhỏ của vú. Phụ nữ trên 40 tuổi nên thực hiện việc chụp nhũ ảnh và siêu âm vú hàng năm.

Theo BS. Nguyễn Triệu Vũ - Gia đình & Xã hội

Thêm 6 lí do bạn nên ăn trứng nhiều hơn

Nếu bạn không thường xuyên ăn trứng thì dưới đây là 6 lí do khuyên bạn nên thay đổi thói quen đó.

1. Ngăn đau tim


Nghiên cứu hỗ trợ sức khỏe cho biết cholesterol trong lòng đỏ trứng khác hoàn toàn so với cholesterol trong máu của cơ thể cho nên không hề dẫn đến đột quỵ hoặc đau tim.

an-trung-ngua-ung-thu-vu

2. Cung cấp vitamin


Ăn trứng cung cấp một lượng lớn vitamin cần thiết cho cơ thể:

• Vitamin B2 hay riboflavin-giúp biến thức ăn thành năng lượng.
• Vitamin B12 hoặc cobalamin đóng góp trong việc sản xuất tế bào máu đỏ.
• Vitamin A hay retinol- rất tốt cho thị lực.
• Vitamin E hay tocopherol giúp chống lại các gốc tự do có thể gây ra thiệt hại tế bào, mô và chống ung thư.

Ngoài ra, vitamin A và B2 cũng rất quan trọng cho sự tăng trưởng tế bào. 

3. Cung cấp khoáng chất


Trứng chứa nhiều thành phần chất khoáng cần thiết cho cơ thể như phốt pho, kẽm, sắt.  Sắt giúp cơ thể chống mệt mỏi, tránh cáu gắt. Kẽm giữ cho hệ thống miễn dịch được đảm bảo và giúp chuyển đổi thức ăn thành năng lượng. Phốt pho giúp răng chắc, xương khỏe.

Ngoài ra, trứng còn cung cấp một lượng nhỏ i-ốt tốt cho việc kích thích tuyến giáp và selen- chất chống oxy hóa làm giảm nguy cơ ung thư.

4. Giảm nguy cơ ung thư vú


Trứng là nguồn tốt nhất cung cấp chất dinh dưỡng choline cho cơ thể. Một nghiên cứu mới cho thấy những người phụ nữ có hàm hượng choline cao ít có nguy cơ mắc ung thư vú đến 25% so với phụ nữ bình thường. Lưu ý, choline được tìm thấy chủ yếu trong lòng đỏ trứng gà.

5. Tăng thị lực


Lòng đỏ trứng gà chứa nhiều chất chống oxy hóa zeaxanthin và lutein giúp thoát khỏi thoái hóa điểm vàng.

6. Giảm cân


Ăn trứng vào bữa sáng sẽ hạn chế 400 calo thu nạp vào cơ thể trong ngày. Chính điều này giúp cơ thể cảm thấy no trong một thời gian dài, có khả năng chống chọi với bữa ăn nhẹ vào buổi trưa, làm cơ thể trở nên eo thon hơn.

Theo: megafun.vn

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2014

Xét nghiệm máu mới có thể phát hiện ung thư vú sớm 10 năm

Một xét nghiệm máu mới có thể cho phụ nữ biết lối sống của họ có bị nguy cơ phát triển ung thư hay không.
Các nhà khoa học cho biết xét nghiệm có thể xác định những ai phải đối mặt với nguy hiểm mười năm trước khi bất kỳ triệu chứng nào xuất hiện. Điều đó giúp họ kịp thời có hành động phòng ngừa.

xet-nghiem-mau-phat-hien-ung-thu
Phương pháp tầm soát ung thư vú hiện nay chỉ có hiệu quả trong 10% ca mắc. Ảnh: TL
Phát hiện của các nhà khoa học ở trường University College London (UCL) có liên quan đến phương tiện tầm soát ung thư vú đầu tiên giám sát được mức độ những hư hỏng về gen từ các môi trường như hút thuốc, ăn uống, uống rượu và những hoá chất chúng ta tiếp cận trong cuộc sống hàng ngày.

Các xét nghiệm hiện tại chỉ có hiệu quả đối với 10% các trường hợp. Nhưng cho tới nay các nhà khoa học chưa có phương pháp tầm soát sớm đối với ung thư không di truyền vốn gây ra đến 90% ca mắc. Xét nghiệm mới có thể được sử dụng để sàng lọc sớm đối với các phụ nữ sau mãn kinh – những đối tượng mắc cao nhất.

Các nhà nghiên cứu trường UCL giờ đây đã xác định một “chữ ký” hoặc “tag” trên DNA các tế bào máu, một phương pháp đáng tin cậy trong dự báo những phụ nữ có thể phát triển căn bệnh.
Xét nghiệm máu mà họ đang phát triển đánh giá được các yếu tố môi trường ảnh hưởng các gen của cơ thể tới đâu.

GS Martin Widschwendter, tác giả đứng đầu công trình nghiên cứu, nói: “Ứng dụng nhắm chủ yếu đến các phụ nữ sau mãn kinh. Chúng tôi làm xét nghiệm máu mỗi năm năm và sau đó xác định một rủi ro chuyên biệt đối với từng cá thể phụ nữ. Tuỳ vào mức rủi ro chúng tôi có thể “may đo” chế độ phòng ngừa. Chẳng hạn, với một số phụ nữ, điều đó có nghĩa là một sự thay đối trong lối sống, với một số phụ nữ khác có thể là tầm soát tích cực hơn. Đối với những người có nguy cơ cao nhất có thể sử dụng hoá trị hoặc những cách phòng ngừa khác”.

GS Widschwendter tin rằng xét nghiệm có thể đưa vào sử dụng lâm sàng vào năm 2020.

Nghiên cứu của UCL được đăng trên tạp chí Genome Medicine

Theo : danviet.vn

Chất tạo màu của Coca Cola gây ung thư?

Chất tạo màu của Coca Cola bằng amoniac có thể gây ra nhiều loại ung thư khác nhau, báo cáo của Cơ quan quản lý Dược phẩm và thực phẩm Mỹ FDA đã chỉ ra.

Một số chất hóa học sử dụng để tạo màu trong các sản phẩm đồ uống giải khát cola có thể gây ra bệnh ung thư, một tổ chức bảo vệ người tiêu dùng ở Mỹ cảnh báo.

Màu nâu nhạt trong các sản phẩm đồ uống giải khát Cola thường được làm từ đường nấu chảy hay chất hóa học amoniac (NH3). Tuy nhiên, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Khoa học vì sức khỏe cộng đồng của Mỹ (CSPI) cảnh báo, chất tạo màu bằng amoniac có thể gây ra nhiều loại ung thư khác nhau.

Theo báo Telegraph, khuyến cáo được các nhà khoa học đưa ra sau khi tiến hành những thí nghiệm trên động vật. Nhóm nghiên cứu thuộc CSPI cũng kiến nghị Cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) cấm các loại màu thực phẩm có chứa chất amoniac trong mọi sản phẩm đồ uống cola.

coca-cola-gay-ung-thu
Chất tạo màu của Coca Cola có thể gây ra nhiều loại ung thư khác nhau.

Nhóm nghiên cứu giải thích, chất NH3 sẽ phản ứng với đường trong các sản phẩm đồ uống cola, tạo thành các chất gây ung thư. Ngoài ra, họ cũng cảnh báo rằng nước uống cola làm tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì.
Tuy nhiên, Hiệp hội Đồ uống Mỹ đã lên tiếng bác bỏ cảnh báo của các nhà khoa học thuộc CSPI với lí do chưa có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy chất tạo màu thực phẩm chứa NH3 gây ra bệnh ung thư trên người.

Trong khi đó, công ty Coca-Cola, nhà sản xuất đồ uống cola lớn nhất trên thế giới, quả quyết chất tạo màu sản phẩm của họ không hề chứa chất gây ung thư như cảnh báo của CSPI và cho rằng chất NH3 chỉ phản ứng tạo ra chất ung thư trong khi đun nấu. Hãng Pepsi cũng đưa ra những phản bác tương tự về cảnh báo của CSPI.

Theo:giadinhonline.vn

Tuổi nào dễ bị ung thư vú?

Bệnh ung thư vú tăng theo tuổi tác, trong đó phụ nữ tuổi trung niên, tuổi mãn kinh chiếm phần lớn. Theo tài liệu điều tra, người ở độ tuổi 40-59 là tuổi hay bị nhất, chiếm khoảng 75% tổng số người bệnh ung thư vú.

Ung thư vú là một căn bệnh nguy hiểm, nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, tỉ lệ tử vong rất lớn. Hiện nay, ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam, căn bệnh ung thư vú vẫn đang là vấn đề của toàn xã hội, cần sự chung tay, góp sức đẩy lùi.

Ung thư vú là một bệnh lý ác tính xuất hiện trong các tế bào ở mô của vú. Những tế bào này thường phát sinh từ các ống dẫn hoặc tiểu thùy ở vú, sau đó có thể lây lan trong các mô hoặc cơ quan và các bộ phận khác của cơ thể.

Ung thư vú thường xảy ra ở phụ nữ và nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi tác. Theo thống kê, dưới 10% ung thư vú xảy ra trước tuổi 40, 25% xảy ra trước tuổi 50 và trên 50% xảy ra sau 50 tuổi. Ung thư vú rất hiếm gặp ở nam giới

Nguyên nhân gây ung thư vú


- Ung thư vú xuất hiện sau một thời gian dài bị tác động bởi nhân tố gây ung thư, đến tuổi trung niên và già mới phát bệnh.

- Khi bước vào tuổi trung niên, chức năng toàn thân và khả năng miễn dịch của con người suy giảm, dễ bị bệnh ung thư.

- Người phụ nữ mãn kinh thường xảy ra rối loạn nội tiết, nên dễ bị bệnh ung thư vú.
Dấu hiệu ung thư vú ở phụ nữ
Đau tức ở ngực:

- Bạn bỗng cảm thấy ngực mình đau tức ngay cả những ngày bình thường, khi tới gần ngày kinh nguyệt thì ngực bạn càng thấy đau hơn nữa, giống như bị sưng lên vậy, cảm giác đau khiến bạn không dám chạm vào ngực mình nữa.

Vú to lên bất thường:


- Vú bạn luôn cương cứng và to lên hơn mức bình thường kể cả chưa tới ngày kinh nguyệt.

- Kích thước, hình dạng vú méo mó không bình thường.
Có hạch ở dưới nách:

- Bạn sờ thử từ bầu ngực vuốt lên trên theo đường hõm nách thì thấy có hạch nổi lên ở nách.

- Hạch ở nách là giai đoạn đầu tiên phát triển bệnh ung thư vú.
Có u cục ở vú:

- Khi sờ nắn theo đường vòng xung quanh vú thì bạn sẽ thấy có u cục nổi ở trong vú giống như là những viên sỏi nhỏ ở trong vú. Những u cục này có thể là u lành tính hoặc u ác tính, nên đi khám xét để có được hướng điều trị tốt nhất và kịp thời.
Núm vú bị tụt vào trong:

- Núm vú bị tụt hẳn vào trong, cứng, dùng tay kéo ra cũng không được, núm vú không cương lên được như bình thường mà cứ vẫn tụt vào trong như thế.

Vùng da quanh đầu núm vú thay đổi:


- Vùng da xung quanh đầu núm vú bị co rút da, co rút núm vú, nhăn nheo.

- Có các hạt nhỏ ở quầng vú xung quanh núm vú.

Có biểu hiện của viêm da vùng quanh vú


- Da đỏ, phù dưới dạng da cam.

- Chảy nước.

- Bong da vảy nến.

- Ngứa dị ứng

Theo : vnmedia.vn

Cholesterol càng cao, càng dễ bị ung thư vú

Cholesterol càng cao, càng dễ bị ung thư vú - Đây là kết quả nghiên cứu của hiệp hội Tim mạch Châu Âu (European Society of Cardiology) dựa trên kết quả khảo sát dữ liệu của hơn 1 triệu bệnh nhân trong suốt 14 năm qua.

Các chuyên gia thuộc hiệp hội Tim mạch Châu Âu (European Society of Cardiology) đã tiến hành khảo sát dữ liệu của hơn 1 triệu bệnh nhân trong suốt 14 năm.

Kết quả nghiên cứu được trình bày tại Frontiers trong hội nghị Tim mạch Y Sinh học 2014 - Barcelona, Tây Ban Nha (CardioVascular Biology - FCVB).

Theo các chuyên gia, đây là mới chỉ là nghiên cứu sơ bộ, chỉ ra rằng, những phụ nữ bị cao cholesterol trong máu có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn những phụ nữ bình thường khác. Để ngăn ngừa bệnh tim mạch và cả ung thư vú, phụ nữ nên dùng các loại thuốc giảm cholesterol như statin.

ung-thu-vu-do-cholesterol-cao
Ảnh minh họa

Tuy nhiên, rất thận trọng, các nhà khoa học đã cho biết, họ cần tiến hành nhiều nghiên cứu sâu hơn với cỡ mẫu lớn hơn và dài hơi hơn.

Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về mặt dân số học đã khẳng định, béo phì có liên quan mật thiết với căn bệnh ung thư vú.

Dựa vào nghiên cứu cơ bản trên, các chuyên gia tim mạch đã nghiên cứu sâu hơn. Họ đã nghiên cứu trên chuột, và nhận ra, béo phì có liên quan đến ung thư vú và điều này có thể là do cholesterol.

Bằng các công cụ thống kê, nghiên cứu của Hội Tim mạch Châu Âu kết luận tăng lipid trong máu (hyperlipidaemia) làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú lên đến 1,64 lần.

Thanh Hảo (lược dịch theo Womenshealth) – Theo : giadinhonline.vn

Nguy cơ ung thư tăng 21% từ một loại thức ăn mọi trẻ em đều thích

nguy-co-ung-thu-tang-1

Đã là trẻ em, hầu như ai cũng thích ăn xúc xích, còn cha mẹ thì kỳ vọng vào nguồn dinh dưỡng do xúc xích đem lại. Tuy nhiên, mặt trái của món ăn này thì ít người để ý.

Theo các nhà khoa học, ăn xúc xích mỗi ngày còn nguy hiểm hơn nhiều so với hút thuốc lá. Với việc ăn 1 chiếc xúc xích mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư kết trực tràng lên 21%.

Thống kê cho thấy, mặt hàng xúc xích đạt mức tăng trưởng 20%/năm và đang là ngành hàng thực phẩm chế biến nóng nhất hiện nay.

Khảo sát trên thị trường hiện nay, không khó để bắt gặp hàng chục loại nhãn hàng xúc xích được bày bán khắp các siêu thị, hàng quán và ngay cả các quán ăn vỉa hè.

Chính vì việc được bày bán khắp nơi và tiện dụng nên xúc xích đang dần trở thành món ăn nhanh cho nhiều người trong đó phần lớn là dân công sở và trẻ em.

Thói quen sử dụng xúc xích là điều không thể phủ nhận đối với nhiều người nhưng mấy người trong số họ biết được những nguy hiểm rình rập sau những gói xúc xích mà họ vẫn dùng.

Về những mối nguy hại tiềm ẩn trong xúc xích, thông báo mới đây của Dự án nghiên cứu về Ung thư do Health.howstuffworks.com đăng tải cho thấy, ăn xúc xích nguy hiểm hơn nhiều so với hút thuốc lá. Cụ thể, ăn 1 chiếc xúc xích mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ ung thư kết trực tràng lên tới 21%.

Nói về những mối hại do xúc xích mang lại, Giám đốc Trung tâm giáo dục dinh dưỡng Susan Levin cho biết: "Một cái xúc xích mỗi ngày có thể đưa bạn xuống mồ sớm hơn. Các loại thịt chế biến xúc xích có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, bệnh tim, và các loại ung thư khác nhau."

nguy-co-ung-thu-tang-2
Ảnh minh họa

Một nghiên cứu ở Đài Loan cũng chỉ ra rằng, việc tiêu thụ thịt chế biến và hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ trẻ em bị bệnh bạch cầu. Trong khi đó, nghiên cứu khác ở Úc cũng cho thấy, nguy cơ của phụ nữ ung thư buồng trứng tăng là do ăn nhiều thịt chế biến.

Nói về tác hại của xúc xích, The New York Times viết, "việc ăn xúc xích hữu cơ thay thế sẽ không làm giảm bớt các vấn đề trên vì Nitrat và nitrit được sử dụng trong chế biến thịt để cung cấp các màu sắc và hương vị, nó liên kết với tất cả các loại ung thư.

Xúc xích thông thường sử dụng natri nitrit, phiên bản tổng hợp của chất phụ gia, trong khi phiên bản hữu cơ sử dụng bột cần tây hay nước ép cần tây (cả hai đều có liều lượng của nitrat)"

Theo The New York Times, một nghiên cứu được công bố hồi đầu năm nay trên tạp chí Bảo vệ thực phẩm phát hiện ra rằng xúc xích hữu cơ có từ 1/2 đến 10 lần số lượng nitrit của xúc xích thông thường.

Trong khi đó, trang Theglobeandmail.com đăng tải ý kiến của Leslie Beck, giám đốc quốc gia, chuyên gia dinh dưỡng tại Trung tâm y tế BodyScience cho rằng: Nấu thịt ở nhiệt độ cao (ví dụ như xúc xích nướng hay chiên thịt xông khói) sẽ tạo thành các amin dị vòng (hợp chất thể hiện gây ra các khối u ruột kết ở động vật).
Trong khi nấu, nitrit có thể phản ứng với các hợp chất tự nhiên có trong thịt để tạo thành nitrosamine và nitrosamides, một số trong đó có liên quan đến ung thư ở người và động vật.

Theo:soha.vn

5 dấu hiệu dễ nhận biết của bệnh ung thư da

Dưới đây là một số dấu hiệu và triệu chứng cho bạn biết rằng bạn bị bệnh ung thư da hoặc có nguy cơ bị ung thư da.

Ung thư da là một loại bệnh có khả năng gây tử vong. Bệnh có thể do di truyền, có thể do quá nhiều ánh nắng mặt trời và cũng có thể bị gây ra bởi chất gây ung thư nhất định. Có 3 loại ung thư da: u ác tính, ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tế bào đáy.

1. Không đối xứng


Triệu chứng cảnh báo liên quan đến ung thư da là sự không đối xứng của các vết nốt ruồi. Nếu bạn nhận thấy một nốt ruồi có hình dạng không đều về kích thước, hình dạng so với các nốt ruồi khác thì nên đến bác sĩ kiểm tra.

2. Viền ngoài


dau-hieu-benh-ung-thu-da-1

Nếu có một nốt ruồi hoặc một điểm đen mà viền ngoài của nó không mịn màng mà thay vào đó là vết lỗ chỗ, không đều thì đó cũng có thể là dấu hiệu của ung thư da.

3. Màu


Một nốt ruồi khỏe mạnh thì chỉ có một màu. Vì vậy nếu thấy nốt ruồi có màu không đồng nhất và có nhiều màu sắc trên đó như xanh, nâu, đỏ, đen thì đó có thể là một dấu hiệu của ung thư da.

4. Đường kính

dau-hieu-benh-ung-thu-da-2
Nếu thấy một nốt ruồi bất thường thì nên tiếp tục theo dõi kích thước của nó. Bởi bất kỳ nốt ruồi mà tăng trong vòng vài tháng hoặc vài năm sau khi bạn trưởng thành thì đó là triệu chứng của ung thư da.

Theo bác sĩ da liễu, nốt ruồi rộng khoảng 6mm hoặc lớn hơn thì đó có khả năng gây ung thư da.

5. Độ nổi


Bất kỳ sự khác biệt trong nốt ruồi dù là thay đổi màu sắc, kích thước, có dấu hiệu đau, ngứa, chảy máu hay xuất hiện vảy, cục u phát triển ở đầu nốt ruồi thì cần tới gặp bác sĩ ngay lập tức vì đó là dấu hiệu của ung thư da.

Thùy Linh – Theo: megafun.vn

Chỉ dấu ung thư giả

Một số người có chỉ số dấu ấn bệnh ung thư cao qua kết quả xét nghiệm máu, qua khai thác bệnh sử thì được biết họ thường xuyên uống nấm linh chi với trà ô long hoặc hay ăn đậu hũ (đậu phụ)... Khi thay đổi thói quen ăn uống, kết quả xét nghiệm thay đổi theo.

chi-dau-ung-thu-gia

Chuẩn bị mẫu máu xét nghiệm tìm dấu ấn ung thư tại Trung tâm chẩn đoán y khoa Medic - Ảnh: L.Th.H.

Kết quả xét nghiệm máu có chỉ số dấu ấn ung thư cao hơn mức bình thường làm không ít người khủng hoảng, suy sụp vì tưởng rằng mình bị ung thư. Thực tế dấu ấn ung thư không có giá trị chẩn đoán ung thư. Bác sĩ Phan Thanh Hải - giám đốc Trung tâm chẩn đoán y khoa Medic, TP.HCM - cho biết như vậy.
Dương tính giả

Theo bác sĩ Hải, ông từng gặp không ít trường hợp dở khóc dở cười của bệnh nhân khi có kết quả xét nghiệm truy tìm các dấu ấn ung thư trong máu cao hơn mức bình thường.

Khi thấy nồng độ một chất tăng cao, bệnh nhân thường hốt hoảng tìm đến các bệnh viện và bác sĩ sẽ cho làm đủ loại chẩn đoán cận lâm sàng khác như chụp MRI, CT scan, nội soi, siêu âm, có khi cho chụp cả PET CT... để xác định xem bệnh nhân có bị ung thư không.

Bác sĩ Hải kể cách đây khoảng ba tháng, Trung tâm Medic nhận khám và xét nghiệm kiểm tra lại chỉ số dấu ấn ung thư dạ dày (CA 72-4) cho một bệnh nhân là cán bộ cấp cao ở một tỉnh miền Tây Nam bộ.

Trước khi đến Trung tâm Medic, bệnh nhân đã đi khắp các bệnh viện lớn ở Cần Thơ và TP.HCM để xét nghiệm máu lại cũng như nội soi và sinh thiết dạ dày, chụp CT scan, MRI... để xem có bị ung thư dạ dày hay không.

Kết quả xét nghiệm máu ở nhiều bệnh viện cho thấy chỉ số CA 72-4 rất cao nhưng các kết quả lâm sàng khác không có gì bất thường. Bệnh nhân bị khủng hoảng tinh thần dữ dội vì cứ nghĩ “án tử” đã giăng ngay trước mặt.

Kết quả xét nghiệm máu lại của bệnh nhân ở Trung tâm Medic thấy chỉ số CA 72-4 rất cao. Chụp CT scan, nội soi lại và sinh thiết bao tử nhưng kết quả cũng không thấy gì bất thường.

Thấy lạ, bác sĩ Hải mới lên mạng Internet tìm thông tin xem vì sao CA 72-4 dương tính như thế thì phát hiện Đài Loan đã công bố một công trình nghiên cứu cho thấy nếu sử dụng trà ô long với nấm linh chi, chỉ số CA 72-4 sẽ vọt lên rất cao.

Hỏi chuyện với bệnh nhân này thì bệnh nhân nói ngay: “Tôi có trà ô long nhiều lắm. Tôi uống dữ lắm”. Chưa kể bệnh nhân còn rất thích uống nấm linh chi.

Thấy vậy, bác sĩ Hải mới đưa tài liệu nghiên cứu của Đài Loan cho bệnh nhân xem và giải thích chỉ số CA 72-4 cao là do dương tính giả.

Nguyên nhân là do bệnh nhân thường xuyên uống nấm linh chi kết hợp với trà ô long. Nghe xong bệnh nhân rất mừng và ngưng ngay việc sử dụng hai loại trà, nấm này.

Hai tuần sau quay lại xét nghiệm thì chỉ số CA 72-4 giảm hẳn. Sau mấy lần xét nghiệm kiểm tra thì chỉ số này hoàn toàn trở lại bình thường.

Tại Trung tâm Medic còn ghi nhận có gia đình ba thế hệ có chỉ số ung thư đường tiêu hóa (chỉ số CEA) rất cao. Từ người mẹ đến con trai, cháu nội mới hơn 10 tuổi đều có chỉ số CEA cao.

Sau khi bác sĩ Hải khuyên gia đình thay đổi thói quen ăn uống và đến xét nghiệm lại thì chỉ số này vẫn không thấy giảm.

Đến nay các bác sĩ vẫn không lý giải được vì sao CEA lại cao như vậy suốt ba, bốn năm nay mà cả gia đình ba thế hệ chưa ai bị ung thư dù đã cho làm thêm nhiều chẩn đoán hình ảnh, cận lâm sàng khác. Nhưng chỉ số này cao có thể liên quan đến yếu tố gen di truyền gia đình này và đây là dương tính giả.
Chỉ có giá trị tham khảo

Khi tế bào ung thư phát triển sẽ sinh ra một số chất vào trong máu, bác sĩ Hải cho biết. Do đó khi nồng độ một chất nào đó tăng cao thì sẽ chỉ điểm một người nào đó có thể bị ung thư.

Ví dụ, CEA tăng cao thì chỉ điểm ung thư đại tràng, thực quản, dạ dày; CA 125 tăng cao chỉ điểm ung thư buồng trứng.

Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm tìm dấu ấn ung thư mà có một vài chất nào đó tăng cao thì cũng không phải là kết quả đáng tin cậy để chẩn đoán ung thư.

Thực tế cho thấy có nhiều chất gia tăng trong máu không phải là do bệnh nhân bị ung thư, mà có thể do bệnh nhân bị viêm, do ăn uống, môi trường sống...

Đơn cử những người thường ăn đậu hũ khi xét nghiệm máu có thể ra chỉ số CA 15-3 rất cao, nhưng truy tìm bằng đủ phương khác mà không thấy ung thư đâu.

Bác sĩ Hải cũng cho biết xét nghiệm tìm dấu ấn ung thư đều là những công trình nghiên cứu từ các nước châu Âu, châu Mỹ.

Những nghiên cứu này thực hiện trong điều kiện, môi trường của người dân ở quốc gia đó hoặc châu lục đó nên chưa chắc đã thích hợp khi áp dụng ở điều kiện VN vì gen, thể tạng của người VN khác, việc ăn uống, môi trường, điều kiện sống cũng khác.

Sau 50 tuổi nên tầm soát ung thư

Với tần suất ung thư của VN hiện nay chỉ nên cho xét nghiệm truy tìm dấu ấn ung thư ở người trên 50 tuổi, người có nguy cơ cao (có người thân trong gia đình bị ung thư), người bị ung thư đang điều trị hoặc đã khỏi nhưng cần theo dõi tái phát. Ở nam giới nên xét nghiệm truy tìm dấu ấn ung thư gan, ung thư tiền liệt tuyến và ung thư đường tiêu hóa - đây là những ung thư thường gặp ở nam giới trên 50 tuổi. Nam giới cũng hay bị ung thư phổi nhưng chỉ chụp CT scanner phổi với liều tia thấp để kiểm tra là đủ. Với phụ nữ, những xét nghiệm sinh học tìm dấu ấn ung thư vú không có giá trị nhiều mà cần siêu âm, chụp nhũ ảnh. Phụ nữ cũng dễ bị ung thư tuyến giáp nhưng chỉ cần siêu âm tuyến giáp là đủ. Đặc biệt, ung thư buồng trứng là loại ung thư giết phụ nữ rất nhiều nên cũng rất cần được xét nghiệm, siêu âm kiểm tra...

LÊ THANH HÀ ghi – Theo: tuoitre.vn

Chất ung thư trong khoai tây chiên: Khi thực phẩm thành thuốc độc

Mới đây, thông tin Bộ Y tế tiến hành lấy mẫu kiểm nghiệm ngẫu nhiên các sản phẩm khoai tây chiên, bim bim, cà phê để truy tìm chất gây bệnh ung thư có tên acrylamide khiến nhiều người dân hoang mang.

chat-ung-thu-trong-khoai-tay-chien

Ảnh minh họa.

Nguy cơ ung thư từ chính bếp nhà


Cơ quan An toàn thực châu Âu (EFSA) vừa phát hiện một hóa chất có tên là acrylamide gây ung thư được tìm thấy trong bim bim, cà phê, khoai tây chiên, bánh mì nướng bị cháy, khoai tây chiên giòn và một số loại thức ăn nhanh của trẻ em gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. 

Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu EFSA còn đưa ra đề xuất các chính phủ cần phải thiết lập các khung kiểm soát pháp lý mới đối với ngành công nghiệp thực phẩm nhằm cố gắng giảm lượng hóa chất dễ gây ung thư trong các sản phẩm bày bán ở nhà hàng và siêu thị.

Để chủ động giám sát phát hiện và quản lý mối nguy này, Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đề nghị Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia triển khai gấp một số nội dung cụ thể như sau: Lấy ngẫu nhiên 03 mẫu sản phẩm khoai tây chiên tại các cửa hàng thuộc hệ thống của KFC và 03 mẫu sản phẩm bim bim đang lưu thông trên thị trường. 

Trước thông tin trên nhiều người tỏ ra hoang mang. Trên diễn đàn nhiều diễn đàn các phụ huynh tỏ ra lo lắng trước thông tin về sản phẩm này. Nick name có tên Kalys chia sẻ trên webtretho “Cả nhà mình đều thích ăn khoai tây chiên ở các cửa hàng ăn nhanh. Lần nào vào KFC cũng ngấu nghiến ăn hết cả phần khoai tây và phải gọi thêm túi to để cùng nhau ăn”. 

Nhiều người lo ngại vì bim bim không chỉ là món khoái khẩu của trẻ nhỏ mà ngay cả người lớn cũng thích.
Trong khi đó, trao đổi với báo điện tử Infonet, PGS TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ Thực phẩm Đại học Bách Khoa Hà Nội cho biết rất nhiều người hoang mang lo lắng gọi điện cho ông hỏi về thực chất của việc ăn khoai tây chiên, bim bim ở các cửa hàng ăn nhanh như thế nào.

Ông Thịnh cũng thấy lạ khi Cục An toàn Thực phẩm đưa ra thông tin về kiểm nghiệm nhưng không giải thích cụ thể chất acrylamide chất gì nên khi đọc thông tin lấy mẫu kiểm tra nhiều người hoang mang.

Thực tế acrylamide được tạo ra khi đường và một số axít amin thành phần chính của protein có trong các thực phẩm tự nhiên bị nóng lên trong quá trình nướng bánh. Loại hoá chất có hại này thường có trong các loại thực phẩm giàu tinh bột như khoai tây và các sản phẩm từ khoai tây hoặc các đồ nướng như bánh mì. Hàm lượng acrylamide trong các loại thực phẩm này tăng lên khi nhiệt độ tăng và thời gian nấu nướng kéo dài.

Ở các hộ gia đình khi chế biến các loại thực phẩm chỉ cần để ở nhiệt độ cao như chiên trong nhiệt độ 150 độ C thì các protein có trong tự nhiên có thể tự chuyển hóa thành acrymide. 

Từ trước đến nay, các chuyên gia thực phẩm đều khuyến cáo sản phẩm  thực phẩm chiên làm gia tăng nguy cơ phát triển ung thư, đặc biệt là khi chúng chứa các loại dầu hydro hóa - chất béo transfat. Hóa chất acrylamide cũng sản sinh ra khi chúng ta chiên kĩ hoặc chiên đi chiên lại nhiều lần. 

Các nhà khoa học gọi acrylamide là một khối u chứa chất độc thần kinh mạnh, có tác dụng phụ không chỉ trên não, mà cả đối với hệ thống sinh sản. Đối với sản phẩm bim bim được chiên giòn từ tinh bột cũng tương tự.

Trước thông tin gây nhiều hoang mang, PGS Thịnh cho rằng người dân cần bình tĩnh chờ kết quả kiểm nghiệm cụ thể và có thói quen trong nấu nướng tránh biến thực phẩm thành thuốc độc. Người dân hạn chế sử dụng các đồ ăn chiên hay nướng ở nhiệt độ cao từ 150 đến 250 độ C.

Ăn nhiều bim bim trẻ dễ biếng ăn


Trao đổi với chúng tôi, PGS, TS Nguyễn Tiến Dũng trưởng Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai cho biết hiện này ở Việt Nam chưa có nghiên cứu cụ thể gì về những tác hại đến sức khỏe khi cho trẻ ăn nhiều bim bim. Nhưng chỉ bằng quan sát thì dễ thấy việc trẻ ăn nhiều bim bim sẽ giảm ăn trong bữa ăn chính. 

Nhìn trong bảng thành phần thì thấy hàm lượng muối trong bim bim khá cao. Khi trẻ ăn bim bim sẽ khát nước và uống nhiều nước luôn có cảm giác no không thèm ăn. Đây được xem là một nguyên nhân gây biếng ăn ở nhiều trẻ nhỏ.

Sử dụng nhiều bim bim, trẻ dẫn đến hiện tượng thừa muối khiến thận phải làm việc quá tải, ảnh hưởng tới chức năng bài tiết và tăng nguy cơ suy thận. Do đó các bậc cha mẹ hạn chế cho con ăn bim bim.

Khánh Ngọc – Theo infonet.vn

Những nguy hiểm khi cơ thể thiếu vitamin D

Nồng độ vitamin D trong máu thấp có thể dẫn đến tử vong, có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch vành, bệnh xương hoặc các loại ung thư khác nhau...

Ai cũng biết rằng các loại vitamin, chất dinh dưỡng và khoáng chất đóng một vai trò quan trọng cho hoạt động của cơ thể và nếu có một loại vitamin quan trọng như vitamin C thì chắc chắn đó là vitamin D. Vitamin D là loại vitamin tan trong chất béo và có tác dụng tăng sự hấp thu các khoáng chất khác như phốt pho và canxi vào xương, cũng như tăng cường hệ thống miễn dịch. Bất kì sự thay đổi về lượng vitamin D trong cơ thể đều có tác động to lớn đối với sức khỏe của chúng ta trong thời gian dài.

Mặc dù là một loại vitamin cần thiết cho tất cả các cơ quan trong cơ thể nhưng hầu hết chúng ta thường không chú ý tới việc bổ sung đủ vitamin D cho cơ thể. Nhiều nghiên cứu đã tiết lộ rằng nồng độ vitamin D trong máu thấp có thể dẫn đến tử vong, có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch vành, bệnh xương hoặc các loại bệnh ung thư khác nhau ở một điểm nào đó trong cuộc sống.

nhung-nguy-hiem-khi-thieu-vitamin-d
Nồng độ vitamin D trong máu thấp có thể dẫn đến tử vong, có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch vành, bệnh xương hoặc các loại ung thư khác nhau... Ảnh minh họa

Một nghiên cứu được Đại học California tiến hành đã cho thấy mối liên kết mạnh mẽ giữa sự thiếu hụt vitamin D với nguy cơ tử vong sớm và sinh non nó vitamin D đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố sức khỏe của xương và sức mạnh của hệ thống miễn dịch trong cơ thể. 

Suốt những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu kết luận tác hại của tình trạng hàm lượng vitamin D trong cơ thể thấp. 

Bác sĩ Nicholas Harvey, trưởng nhóm nghiên cứu từ Đại Học Southampton (Anh) cho biết: "Hàm lượng vitamin D ở người mẹ có liên hệ với sức mạnh cơ bắp của trẻ và có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ về sau". 

Theo một nghiên cứu năm 2008 trên Tạp chí Clinical Endocrinology & Metabolism, sự thiếu hụt vitamin D làm tăng nguy cơ gây tử vong bởi biến chứng tiền sản giật tới 400%. Hàm lượng vitamin D thấp ở các bà mẹ còn có thể dẫn tới hàm lượng canxi thấp ở trẻ sơ sinh, sinh ra chứng co giật trong vài tháng đầu đời.
Các nghiên cứu từ Đại học Y South Carolina đã chỉ ra rằng một chế độ bổ sung vitamin D hàng ngày sẽ giảm đáng kể nguy cơ sinh non, và các nghiên cứu khác đã tìm ra rằng sự thiếu hụt vitamin D có thể làm tăng tỷ lệ sâu răng ở trẻ em.

Ngoài ra, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận một điều rằng những người có nồng độ vitamin D trong máu thấp sẽ có nguy cơ tổn thương não, tiền sản giật cao gấp đôi so với những người bổ sung đủ vitamin D cho cơ thể. Tuy nhiên, các chuyên gia sức khỏe cũng trấn an rằng nếu bổ sung đủ vitamin D theo liều lượng khuyến cáo thì những nguy cơ trên sẽ được giảm thiểu đáng kể. Bình thường, những người trưởng thành khỏe mạnh cần bổ sung vitamin D với liều lượng 4.000 IU mỗi ngày, không vượt quá.

Theo: afamily.vn

Đau lưng có thể là dấu hiệu ung thư buồng trứng

Nhiều căn bệnh nguy hiểm như bệnh ung thư buồng trứng, u xơ tử cung, viêm vùng chậu,… đều bắt đầu với triệu chứng đau lưng.

dau-lung-la-dau-hieu-ung-thu-buon-trung
Ảnh minh họa: Internet

Đau lưng không chỉ liên quan đến các bệnh về cột sống, trong nhiều trường hợp, đau lưng còn là dấu hiệu của những bệnh phụ khoa nguy hiểm.

Trên PNO có đăng thông tin tư vấn của bác sĩ (BS) Lê Văn Hiền, BV Phụ sản Mê Kông: đau lưng do bệnh cột sống sẽ đau chỗ thắt lưng, kèm đau nhức các chi. Còn nếu đau lưng do phụ khoa thường đau phần xương cụt, kèm các triệu chứng như huyết trắng bất thường, đau bụng, kinh nguyệt không đều.

Đau lưng có thể cảnh báo những bệnh phụ khoa nguy hiểm như sau:


Viêm cổ tử cung


Cổ tử cung giống như một cái van đóng, mở ngăn cách giữa tử cung với bên ngoài, có tác dụng chống lại mầm bệnh, bảo vệ cho tử cung được khỏe mạnh. Cổ tử cung mở trong những ngày hành kinh và chuyển dạ khi sinh em bé. Nếu âm hộ, âm đạo bị viêm nhiễm mà không được chữa trị kịp thời, sẽ lan sang cổ tử cung, gây viêm. Ngoài triệu chứng như dịch âm đạo nhiều, có màu bất thường, đau bụng còn kèm đau lưng.

Theo BS Lê Văn Hiền, viêm cổ tử cung ở thể nhẹ chỉ cần dùng thuốc kháng sinh theo chỉ định của BS. Nhưng nếu không điều trị kịp thời, bệnh gây ra nhiều biến chứng như viêm nội mạc tử cung, viêm phần phụ, viêm lộ tuyến tử cung… gây cản trở tinh trùng vào buồng tử cung và dẫn đến vô sinh.

Viêm vùng chậu


Nếu vùng chậu bị viêm nhiễm sẽ ảnh hưởng đến các cơ quan trong vùng bụng, nhất là ống dẫn trứng nên việc mang thai cũng bị ảnh hưởng. Theo thống kê, khoảng 20% bệnh nhân mắc viêm khung xương chậu khó có cơ hội làm mẹ, 18% trường hợp bệnh có nguy cơ thành mạn tính dẫn đến vô sinh, 9% có thai ngoài tử cung hoặc gặp những bất thường khi mang thai.

BS Lê Văn Hiền cho biết, viêm vùng chậu có thể là một biến chứng nghiêm trọng của bệnh lây lan qua đường tình dục. Có thể bệnh nhân mắc các bệnh lậu, chlamydia mà không điều trị. Ngoài ra, bị viêm âm đạo, từng sẩy thai, thụt rửa âm đạo, tự ý đặt thuốc vào âm đạo, quan hệ tình dục với nhiều người… cũng là yếu tố nguy cơ góp phần gây bệnh.

Khoảng 80% trường hợp bệnh nhân không phát hiện mình mắc bệnh là do bệnh không có triệu chứng gì đặc biệt, chỉ có dấu hiệu rất nhỏ như sốt nhẹ, tinh thần mệt mỏi, mất ngủ, thường trằn bụng dưới. Khi sự viêm nhiễm đã lan ra thì triệu chứng phổ biến nhất là đau ở vùng cột sống dưới thắt lưng (giữa hai mông). Các cơn đau thắt lưng có thể bất chợt hoặc kéo dài, đau nhói hoặc đau âm ỉ… nhưng với tần suất cao. Dấu hiệu này khiến nhiều người nhầm tưởng là chứng đau lưng thông thường, thậm chí còn bị chẩn đoán nhầm là tổn thương cột sống, thoái hóa cột sống, thần kinh tọa.

Bệnh tuy nguy hiểm nhưng dựa vào nguyên nhân gây bệnh thì có thể phòng ngừa rất đơn giản bằng cách không thụt rửa âm đạo, khi xuất hiện huyết trắng bất thường, cần đi khám để được chẩn đoán kịp thời. Không quan hệ tình dục bừa bãi, không tự ý đặt thuốc khi chưa có chỉ định của BS.

Sa tử cung


Là do chấn thương ở các cơ đáy xương chậu, cổ tử cung hoặc các mô nâng đỡ tử cung trong quá trình chuyển dạ, nhất là ở những người chuyển dạ lâu, sinh con quá to hoặc quá nhanh.

Bệnh chia làm ba mức độ. Sa tử cung độ một là nhẹ nhất, chỉ sa xuống thập thò ở âm đạo. Mức độ hai, tử cung sa xuống lộ ra ngoài âm đạo nhưng thân tử cung vẫn nằm trong âm đạo. Ở mức độ ba, toàn bộ tử cung đã sa hẳn ra ngoài âm đạo. Triệu chứng đặc trưng là đau lưng dữ dội, đau nhiều khi quan hệ, khó khăn trong việc đi tiêu, tiểu.

U xơ tử cung, u nang buồng trứng


Đây là hai loại khối u thường gặp nhất trong các bệnh phụ khoa. Phần lớn các khối u đều lành tính.

U xơ tử cung: tùy theo vị trí trong thành tử cung mà các khối u có dạng khác nhau như u xơ dưới niêm mạc (khi có cuống gọi là polyp buồng tử cung), u xơ tử cung, u xơ thanh mạc. 

Có thể có một khối u hoặc nhiều khối u dính lại với nhau, kích thước thay đổi từ vài mm đến vài chục mm. Khối u nhỏ không ảnh hưởng đến sức khỏe, nhưng khi lớn sẽ gây thiếu máu nếu bị biến chứng rong kinh, rong huyết, ra máu bất thường. 

Không điều trị kịp thời, bệnh làm thai kém phát triển, đẻ non, sẩy thai, vô sinh. Ngoài triệu chứng chảy máu kinh bất thường, đau khi giao hợp, tiểu tiện khó, tiêu tiểu nhiều lần, táo bón, bệnh còn gây đau ngang thắt lưng.

U nang buồng trứng: Bệnh thường gặp ở lứa tuổi sinh đẻ. U nang buồng trứng có thể phát triển từ ác mô của buồng trứng hay từ mô của các cơ quan khác trong cơ thể, tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau với nhiều biến chứng. 

Trong các diễn tiến tự nhiên có thể xảy ra với u nang buồng trứng là khối u tự mất, khối u không gia tăng kích thước, khối u gia tăng kích thước, khối u bị xoắn… thì khối u bị xoắn là dạng biến chứng nguy hiểm, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ đe dọa tính mạng. Triệu chứng chính là đau tức vùng bụng, đau vùng thắt lưng và đùi, tăng cân không rõ nguyên nhân.

Ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng


Đây là hai bệnh phụ khoa ác tính nhưng phổ biến. Giai đoạn đầu bệnh nhân không hề có triệu chứng gì, về sau có thể có các triệu chứng đau vùng xương chậu, huyết trắng dai dẳng, chảy máu bất thường, đau khi quan hệ… Khi các tế bào ung thư xâm lấn mô liên kết xương chậu, đè nén vùng chậu sẽ gây đau lưng. Tuy nhiên, triệu chứng đau lưng chỉ xuất hiện trong giai đoạn bệnh đã nặng.

Theo : SKGĐ-khoe360

Cách chế biến khoai tây chiên để giảm nguy cơ ung thư

Ngâm khoai tây trong nước ít nhất 30 phút trước khi chiên sẽ làm giảm lượng acrylamide (một hợp chất gây bệnh ung thư) phát sinh trong quá trình chế biến.

che-bien-ljoai-tay-chien
Ảnh: audistico.es

Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu (EFSA) vừa đưa thông tin cảnh báo về việc khoai tây chiên cùng với bim bim, bánh mì nướng bị cháy và một số loại thức ăn nhanh của trẻ em ... có chứa acrylamide. Acrylamide vốn là hợp chất được tạo ra một cách tự nhiên khi ta đem chiên, rán, nướng thức ăn giàu carbonhydrate và tinh bột ở nhiệt độ cao (từ 170 – 180¬ độ C).

Thực ra, trước đây, một số cơ quan về an toàn thực phẩm của Tổ chức Y tế Thế giới, Mỹ và Anh cũng đã đề cập đến acrymilade như một quan ngại chính thức cho sức khỏe cộng đồng. Các chuyên gia y tế cho rằng việc tiếp xúc nhiều với acrylamide khiến cơ thể đổ mồ hôi, đi tiểu không kiểm soát, buồn nôn, đau mỏi cơ…

Sau khi đề nghị lấy ngẫu nhiên 3 mẫu khoai tây chiên tại một chuỗi cửa hàng bán đồ ăn nhanh và 3 mẫu bim bim đang bán trên thị trường để xét nghiệm, Cục An toàn thực phẩm Việt Nam cũng khuyến cáo người dân nên xử lý đúng cách những sản phẩm thực phẩm chứa tinh bột để giảm acrylamide sinh ra trong quá trình chế biến. Cụ thể: ngâm khoai tây trong nước ít nhất 30 phút trước khi chiên; chia thành nhiều lát nhỏ khi nướng bánh mì; không rán hoặc nướng lại thực phẩm nhiều lần, hạn chế dùng dầu đã qua sử dụng để rán, chiên thức ăn quá lâu; khi chế biến thức ăn từ tinh bột và đường tránh quá lửa làm cho nhiệt độ quá cao trong thời gian dài...

Hoàng Anh – Theo vnexpress.net

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Những tác dụng kì diệu của quả bơ với sức khỏe

Các nhà nghiên cứu cho rằng tiêu thụ quả bơ có tác động tiềm năng tới việc giảm nguy cơ phát triển bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư...

Các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu những tác động tiềm năng của việc tiêu thụ quả bơ với bệnh tim mạch. Nghiên cứu này được dựa trên một nghiên cứu lâm sàng điều tra xem những người bị coi là thừa cân và béo phì ăn một lượng bơ nhất định mỗi ngày có tăng nguy cơ bệnh tim mạch như những người khác không ăn bơ hay không.

Li Wang, nghiên cứu sinh tại Đại học bang Pennsylvania và người đứng đầu nghiên cứu, Tiến sĩ Penny Kris Etherton cho biết: chỉ có chế độ ăn uống có chứa bơ là giúp giảm đáng kể mật độ lipoprotein (LDL -P). chế độ ăn uống với chất béo vừa phải mà không có bơ hoặc chế độ ăn uống ít chất béo không làm được điều này.

Hóa chất phổ biến gây ung thư vú

Những hóa chất thường xuất hiện trong đời sống hằng ngày được chứng minh đã góp phần gây nên ung thư vúở chuột thí nghiệm, và dự đoán con người cũng bị ảnh hưởng tương tự.


Phần lớn tác nhân ung thư vú đến từ môi trường ô nhiễm - Ảnh: Shutterstock

Bảo vệ bản thân trước nguy cơ ung thư vú

Các cuộc nghiên cứu mới đã chứng minh những hóa chất thường xuất hiện trong đời sống hằng ngày có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú ở nữ giới đồng thời đưa ra biện pháp phòng tránh phơi nhiễm.


Ảnh: Shutterstock

Báo cáo mới đăng trên chuyên san Environmental Health Perspectives đã liệt kê 17 hóa chất cần tránh và cung cấp những cách thức giúp phụ nữ phòng chống tình trạng phơi nhiễm trước chất sinh ung thư vú, từ đó giảm thiểu nguy cơ phát bệnh. Những chất sinh ung thư được liệt kê trong danh sách bao gồm các hóa chất trong xăng, dầu diesel và những loại khí thải xe cộ khác, chất chữa cháy, vải dệt chống ố, chất tẩy sơn, những phụ phẩm trong quá trình tiệt trùng nước uống.

Đánh bại ung thư vú

Một nghiên cứu công bố trên tạp chí Journal of Clinical Oncology cho thấy có sự cải tiến đáng kể về tỷ lệ sống sót ở những phụ nữ ung thư vú nhờ việc tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày và duy trì chế độ ăn uống với các chất bổ sung cần thiết.

Ăn ít ngăn ung thư vú lây lan

Hạn chế lượng calo nạp vào cơ thể có thể cải thiện tỷ lệ sống sót của bệnh nhân ung thư vú. Nghiên cứu trên loài chuột, các nhà khoa học thuộc Đại học Thomas Jefferson (Mỹ) nhận thấy ở những con chuột có chế độ ăn uống hạn chế (giảm khoảng 30% lượng thực phẩm so với bình thường), các tế bào ung thư không thể lây lan sang các bộ phận khác trong cơ thể.

Thuốc trị ung thư vú từ bột nghệ

Các nhà khoa học Mỹ mới tạo ra một loại thuốc từ nghệ có tác dụng trị ung thư vú. Theo nghiên cứu tại Đại học Louisville, chất curcumin trong bột nghệ giúp giảm khoảng 30% kích cỡ khối u, đồng thời ức chế sản sinh các tế bào ung thư, tờ Daily Express đưa tin.

Những cách ngừa ung thư vú

Những hướng dẫn cụ thể dưới đây từ các chuyên gia y khoa có thể giúp phụ nữ giảm thiểu nguy cơ ung thư vú, theo Mirror.

Năng động: Cuộc sống năng động giúp giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ, Eluned Hughes, người đứng đầu Trung tâm Phòng chống ung thư vú (Anh), khẳng định.

Theo các nhà khoa học, tập thể dục làm giảm số lượng tế bào mỡ, giúp việc phóng thích các hormone như estrogen và testosterone dễ dàng hơn. Đó là những tế bào mỡ kích thích sự phát triển của khối u.

Theo ông Eluned, 30 phút hoạt động thể chất vừa phải mỗi ngày giúp giảm ít nhất 20% nguy cơ ung thư vú.

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Phát hiện nguy cơ ung thư vú trước 10 năm

Chỉ cần thực hiện xét nghiệm máu, phụ nữ có thể phát hiện “mầm mống” ung thư trước một thời gian dài.
Thật vậy, các nhà khoa học đến từ University College London khẳng định xét nghiệm máu có thể xác định nguy cơ ung thư trước khi chúng thực sự xuất hiện khoảng 10 năm.

Hiện các nhà khoa học chỉ có thể đánh giá khả năng mắc ung thư vú thông qua xác định cấu trúc DNA; giống như Angelina Jolie từng thực hiện.

Phát hiện này cho phép mọi người có thời gian để hành động. Một trong những cách phòng ngừa tốt nhất là thường xuyên tập thể dục, duy trì chế độ ăn lành mạnh và giữ một thân hình cân đối.

Cách phát hiện bệnh sớm trên cũng giúp phụ nữ ở độ tuổi 50-60 có thể thường xuyên theo dõi mức độ rủi ro về sức khỏe của họ, nhất là khi về già.

Đặc biệt, nếu phương pháp phát hiện bệnh nhờ xét nghiệm máu được thực hiện diện rộng thì chúng ta có thể giảm được đáng kể lượng bệnh nhân ung thư vú hàng năm.

Hiện các nhà khoa học chỉ có thể đánh giá khả năng mắc ung thư vú thông qua xác định cấu trúc DNA. Phương pháp này rất hữu ích trong việc phát hiện những chị em chứa gen BRCA1 bị lỗi; giống như trường hợp của minh tinh Hollywood Angelina Jolie.

Dù vậy, xác định cấu trúc DNA cũng chỉ phát hiện được 10% các trường hợp bị bệnh. Điều này đồng nghĩa với việc chưa có phương pháp sàng lọc ung thư vú không do di truyền từ sớm – nguyên nhân chiếm tới 90% ca mắc bệnh.

Trong tương lai, việc thực hiện phương pháp tầm soát mới có thể được áp dụng cho phụ nữ sau mãn kinh. Ở Anh, mỗi năm có tới 50.000 trường hợp được phát hiện mắc ung thư vú. Trong khi đó, 4/5 trường hợp đều rơi vào đối tượng phụ nữ sau mãn kinh.

Ở phương pháp xét nghiệm máu phát hiện ung thư, các nhà nghiên cứu tại University College London phát hiện một “tag” trên DNA của tế bào máu. Họ cho rằng dấu hiệu này rất đáng tin cậy trong việc dự báo nguy cơ phát triển bệnh ở chị em.

Cùng với xét nghiệm máu, họ còn quan tâm đến việc đánh giá yếu tố môi trường, thói quen sinh hoạt của mỗi người.

Hiện phương pháp xét nghiệm máu chưa được khẳng định tính khả dụng trong việc phát hiện nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng cần thực hiện nghiên cứu sâu hơn để kết luận khả năng đánh giá nguy cơ mắc bệnh của phương pháp này.


Nói về phát hiện trên, tiến sĩ Matthew Lam, chuyên viên nghiên cứu về ung thư vú cho biết: “Phát hiện mới cho phép chúng ta hy vọng về một cách phát hiện ung thư sớm. Tuy vậy, chúng ta cần nghiên cứu kỹ hơn để khẳng định tính chính xác cao của nó”.

Lê Nguyệt (Theo DLM)

Chảy máu cam thường xuyên là bệnh gì?

Anh em hay bị chảy máu cam và có khi chảy máu ở tai. Em nghi ngờ anh bị bệnh tủy, liệu có phải như vậy không, AloBacsi?

Chào Alobacsi.vn, Em có một người anh trai cao 1m85 nặng 85kg. Anh em hay bị chảy máu cam và có khi chảy máu ở tai (chỗ dái tai). Em nghi ngờ anh mình bị bệnh tủy, liệu có phải như vậy không ạ? Em rất lo lắng mong AloBacsi giải đáp giúp em ạ! (Thu Nhi – Quận 4, TPHCM)


Ảnh minh họa
Bạn Nhi thân mến,

Chảy máu cam thường do các nguyên nhân sau đây:

- Chấn thương mũi: ngoáy mũi, va đập trực tiếp vào mũi (tai nạn, ngã...).

- Viêm mũi xoang: cúm nhiễm virus, viêm xoang nhiễm trùng…

- Lệch vách ngăn mũi.

- Ung bướu (u xơ vòm, ung thư vòm mũi họng).

- Bệnh phình mạch máu trong mũi.

- Cao huyết áp.

- Bệnh do rối loạn quá trình đông máu: các bệnh lý huyết học...

- Dị vật: Khi thấy chảy máu và mủ một bên mũi, cần nghĩ đến tình trạng có dị vật ở đường thở.

- Không khí quá khô (độ ẩm thấp).

- Một số trường hợp máu cam đổ không rõ nguyên nhân, máu đột ngột chảy và tự cầm.
Khi chảy máu nhiều và kéo dài gây sự thiếu máu, đôi khi có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe. Do đó, bạn hãy nhanh chóng đưa người tới bệnh viện khám và điều trị ngay nhé!

BS.CK1 Nguyễn Hồng Dũng - AloBacsi.vn

Ăn uống là "thủ phạm" gây ung thư?

Hiện nay bệnh ung thư có xu hướng gia tăng nhanh ở nước ta. Có nhiều lý do giải thích về sự gia tăng của bệnh ung thư như vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm thực phẩm….

TS. Nguyễn Văn Hiếu – Bộ môn Ung thư – Trường ĐH Y Hà Nội cho biết, những hiểu biết và quan tâm đối với ung thư của giới y khoa cũng như cộng đồng đã làm tăng thêm việc phát hiện và chẩn đoán bệnh ung thư. Vấn đề dinh dưỡng cũng là một yếu tố quan trọng liên quan chặt chẽ đến sự phát sinh và phát triển của căn bệnh ung thư.

Theo các nhà nghiên cứu ung thư học, dinh dưỡng đóng vai trò khoảng 35% trong các nguyên nhân gây bệnh ung thư (trong khi vai trò của thuốc chiếm khoảng 30%). Nhiều bệnh ung thư có liên quan đến dinh dưỡng như ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư đại trực tràng, ung thư vòm mũi họng, ung thư vú, ung thư nội tiết…

Mối liên quan giữa dinh dưỡng và ung thư được thể hiện ở hai khía cạnh chính: trước hết là sự có mặt của các chất gây ung thư có trong các thực phẩm, thức ăn, đồ uống; vấn đề thứ hai có liên quan đến sinh bệnh học ung thư là sự hiện diện của các chất đóng vai trò làm giảm nguy cơ gây ung thư (vitamin, chất xơ…) đồng thời sự mất cân đối trong khẩu phần ăn cũng là một nguyên nhân sinh bệnh.

Các chất gây ung thư có trong thực phẩm

Nitrosamin: nitrosamine và các hợp chất N-nitroso khác, là những chất gây ung thư thực nghiệm trên động vật. Những chất này thường có mặt trong thực phẩm với 1 lượng nhỏ. Các chất nitrit và nitrat thường có tự nhiên trong các chất bảo quản thịt, cá và các thực phẩm được chế biến, trong dưa cà khú hỏng.

Tiêu thụ nhiều thức ăn có chứa nitrit và nitrat có thể gây ra ung thư thực quản, dạ dày. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại thực phẩm ướp muối, hay ngâm muối như cá muối, có hàm lượng nitrosamine cao.

Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á thường tiêu thụ loại thực phẩm này có liên quan đến sinh bệnh ung thư vòm mũi họng.

Các nhà khoa học Nhật Bản chỉ ra việc tiêu thụ nước mắm, chứa một hàm lượng nitrosamine cao, liên quan đến ung thư dạ dày.

Những nhà khoa học nước ta đang nghiên cứu loại thực phẩm dưa muối, cá muối, đặc biệt là dưa muối bị khú, có hàm lượng nitrosamine cao, có thể có liên quan đến ung thư ngày càng tăng ở nước ta.

Aflatoxin: aflatoxin sinh ra từ nấm mốc Aspergillus flavus. Đây là một chất gây ra bệnh ung thư gan, bệnh phổ biến ở các nước nhiệt đới.

Loại nấm mốc này thường có trong các ngũ cốc bị mốc hoặc là lạc mốc, việc tiêu thụ các thực phẩm này là một nguyên nhân gây bệnh ung thư gan.

Chất phụ gia và các chất gây nhiễm khác có trong thực phẩm: các nhà khoa học phương Tây cho thấy sử dụng một số phẩm nhuộm thực phẩm có thể gây ra ung thư, như chất paradimethyl amino benzene dùng để nhuộm bơ thành “bơ vàng” có khả năng gây ung thư gan.

Tại các nước này sử dụng các phẩm nhuộm thức ăn cũng như các chất phụ gia được kiểm duyệt rất nghiêm ngặt để đảm bảo an toàn thực phẩm.

Việc sử dụng phẩm màu công nghiệp trong chế biến thức ăn ở nước ta còn chưa được quản lý nghiêm ngặt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng và đây cũng là một trong những tác nhân gây ung thư.

Không mua các thức ăn có màu sắc sặc sỡ hoặc nghi ngờ có sử dụng phẩm màu không cho phép. Nên dùng các màu sắc tự nhiên trong chế biến thức ăn như màu đỏ của cà chua, gấc; màu vàng của nghệ.

Nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra các thực phẩm có chứa các dư lượng, tàn tích của các thuốc trừ sâu, không chỉ có thể gây ra ngộ độc cấp tính mà còn khả năng gây ung thư. Do vậy, vấn đề an toàn thực phẩm, tiêu thụ rau sạch hiện nay đang được xã hội quan tâm.

Cách nấu nướng và bảo quản thực phẩm: Một số cách nấu thức ăn và bảo quản thực phẩm có thể sẽ tạo ra chất gây ung thư. Những thức ăn hun khói có thể bị nhiễm benzopyren, một chất gây ung thư thực nghiệm. Việc nướng trực tiếp thịt ở nhiệt độ cao có thể tạo ra một số sản phẩm có khả năng đột biến gen như dioxin, hydro-cacbon thơm đa vòng…

Dinh dưỡng và ung thư

Chất béo và thịt: các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy có mối liên quan giữa bệnh ung thư đại trực tràng với chế độ ăn nhiều mỡ, thịt động vật.

Chế độ ăn nhiều mỡ, thịt gây ung thư qua cơ chế làm tiết nhiều axit mật, chất ức chế quá trình biệt hóa của các tế bào niêm mạc ruột. Các nhà khoa học đã nghiên cứu mối liên quan chặt chẽ tiêu thụ chất béo với ung thư vú. Tỷ lệ tử vong do mắc ung thư vú tăng theo mức tiêu thụ mỡ.

Hoa quả và rau xanh: trong hoa quả và rau xanh chứa nhiều vitamin và chất xơ. Các chất xơ làm hạn chế sinh ung thư do chúng thúc đẩy nhanh lưu thông ống tiêu hóa, làm giảm thời gian tiếp xúc của các chất gây ung thư với niêm mạc ruột, mặt khác bản thân chất xơ có thể gắn và cố dịnh các chất gây ung thư để bài tiết theo phân ra ngoài cơ thể.

Các loại vitamin A, C, E làm giảm nguy cơ ung thư biểu mô, ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư phổi… thông qua quá trình oxy hóa, chống đột biến gen. Đặc biệt các loại rau thơm và rau gia vị với các thành phần chống oxy hóa (carotene, vitamin C…) và các tinh dầu không chỉ kích thích tiêu hóa mà còn hạn chế và ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư.

Như vậy, ăn uống có liên quan chặt chẽ với bệnh ung thư.

Việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống nhiễm các hóa chất gây ung thư trong thức ăn, việc thực hiện chế độ ăn cân đối hợp lý, tránh thái quá mỡ, thịt động vật, đồng thời tăng cường tiêu thụ trái cây và rau xanh không chỉ là biện pháp dự phòng bệnh ung thư mà còn có thể phòng chống được nhiều bệnh khác.

AloBacsi.vn
Theo VnMedia

Aspirin có thể giúp giảm nguy cơ ung thư tuyến tụy

Những người sử dụng aspirin liều thấp giảm một nửa nguy cơ ung thư tuyến tụy.

Ảnh minh họa - nguồn internet

Các nhà nghiên cứu Mỹ đã theo dõi 362 bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy và 690 người khác ở 30 bệnh viện ở Connecticut (Mỹ) từ năm 2005-2009 về liều lượng sử dụng aspirin. Kết quả cho thấy, những người sử dụng aspirin liều thấp giảm một nửa nguy cơ ung thư tuyến tụy.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả mọi người nên dùng aspirin hàng ngày để ngăn ngừa ung thư tuyến tụy, vì thuốc aspirin có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết và các biến chứng đe dọa tính mạng.

AloBacsi.vn
Theo An Ninh Thủ Đô

Cuống lưỡi có khối u như trong ảnh là dấu hiệu bệnh ung thư?

Gửi bác sĩ,

Em được chuẩn đoán là bị amidan quá phát, nhưng tự quan sát trong họng em thấy trên lưỡi nổi nhiều hạt hồng khá to, cuống lưỡi có khối u màu trắng, em không biết liệu mình có bị ung thư vòm họng do nhiễm virus HPV không?

Em bị tình trạng này cũng được nửa năm rồi. Em không bị đau nửa đầu, chảy máu cam, ù tai, chỉ thấy nuốt hơi vướng thôi. Mong bác sĩ giải đáp giúp em.

(Trang Bo – nguyenthuy…@gmail.com)

BS-CK1 TMH Nguyễn Hồng Dũng:
Ảnh minh họa
Bạn Trang thân mến,

Những hình ảnh và triệu chứng bạn nêu là hậu quả của viêm amidan quá phát độ 3. Khi viêm amidan quá phát, nhu mô amidan có chứa chiều nang bã đậu nên làm cho hơi thở không thơm tho (hôi miệng). Hay khạc ra những chất bã đậu như hạt cơm, rất hôi. Bởi vậy, phẫu thuật cắt amidan là chỉ định phù hợp. Bạn trở lại bệnh viện tái khám và xin ý kiến bác sĩ điều trị việc cắt amidan nhé.

Hình ảnh bạn băn khoăn không phải là hình ảnh ung thư, đó là hình ảnh amidan đáy lưỡi, chúng cũng quá phát to lên. Bạn hãy yên tâm học tập, làm việc nhé.

AloBacsi.vn - nơi bạn có thể trò chuyện, chia sẻ mọi thắc mắc với bác sĩ chuyên khoa.

AloBacsi.vn giúp bạn giải đáp 1.001 thắc mắc về sức khỏe.
Mọi thắc mắc về sức khỏe gửi đến email: kbol@alobacsi.vn.

Bạn đọc có thể ghi kèm số điện thoại để bác sĩ liên hệ khi cần thiết.
Để chính xác về nội dung cần hỏi, bạn đọc vui lòng gõ có dấu (font chữ Unicode).

Chân thành cảm ơn.
AloBacsi.vn

Củ gừng xua tan nỗi lo mất ngủ

Không chỉ là gia vị, gừng còn được biết đến như một vị thuốc quý chữa bệnh mất ngủ kinh niên vô cùng hiệu quả.

Củ gừng chữa chứng mất ngủ

Chữa chứng mất ngủ

Có nhiều nguyên nhân gây mất ngủ, có thể chỉ là những lo âu hay căng thẳng nào đó trong đời sống hàng ngày chưa được giải quyết ổn thỏa; những hành vi cá nhân như hút thuốc lá, uống cà phê nhiều, thay đổi múi giờ khi đi xa, làm việc ca đêm, ăn quá nhiều quá no trong đêm; hoặc những bệnh lý thực thể đều có thể gây mất ngủ.

Theo y dược học hiện đại, gừng có tinh dầu 2% - 3%, chất nhựa 5%, chất béo 3% tinh bột và các chất cay như zingeron, shogaola. Gừng và tinh dầu chiết xuất từ gừng cón có tác dụng chữa chứng mất ngủ kinh niên.

Cách làm:

Cách 1:

Cho 1 củ gừng vào nước lạnh (khoảng 500ml, cho 1 lần uống) đun sôi, sau khi nước sôi cho đường phên vào (lượng vừa đủ cho lượng nước 500ml), tiếp tục đun nhỏ lửa khoảng 15 phút là được. Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.

Cách 2:

Giã nát 1 củ gừng hòa vào 500ml nước ấm, cho thêm chút muối và khuấy đều. Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.

Lưu ý:

Ngày nào uống thì chế biến ngày ấy cho tươi mới là tốt nhất. Người bình thường muốn ngủ ngon đều có thể uống.

Thời gian đầu khi mất ngủ trầm trọng, có thể uống khoảng 1 lít nước đường gừng hoặc muối gừng. Sau 1 thời gian khi bệnh đã chuyển, có thể giảm xuống uống 500ml rồi dần dần duy trì cách ngày uống 1 lần 500ml.

Nếu có điều kiện,bạn có thểngâm chân bằng nước gừng nóng hay muối nóng trước khi đi ngủ để có được giấc ngủ sâu và ngon.

Lưu ý khi sử dụng gừng

1. Không nên gọt vỏ: Nhiều người gọt vỏ khi ăn gừng mà không biết rằng vỏ gừng cũng có rất nhiều công dụng chữa bệnh. Vì vậy khi ăn gừng nên rửa sạch sau đó sử dụng theo mục đích.

2. Không nên ăn gừng trong thời gian dài: Những người mắc những bệnh dưới đây không nên ăn gừng liên tục: âm hư hỏa vượng, nhiệt trong, mắc các bệnh mụn nhọt, viêm phổi, phù thũng phổi, hạch phổi, viêm dạ dày, viêm gan, viêm thận, bệnh tiểu đường…

3. Không dùng gừng cho người say nắng: Khi bị cảm lạnh uống nước gừng sẽ rất hiệu quả. Tuy nhiên, trái lại đối với những trường hợp cảm mạo thử nhiệt, cảm mạo phong nhiệt hoặc bị trúng nắng tuyệt đối không cho dùng gừng.

4. Không nên ăn gừng tươi đã bị dập: Chắc chắn nhiều người không biết rằng củ gừng tươi sau khi bị dập sẽ sinh ra một loại độc tố mạnh có thể gây hoại tử các tế bào gan, lâu dần sẽ biến thành ung thư gan, ung thư thực quản.

5. Không nên ăn nhiều gừng: Mặc dù gừng có nhiều tác dụng nhưng không nên quá lạm dụng.

AloBacsi.vn
Theo N.D - Báo Đất Việt

Mít - "Siêu trái cây" chống ung thư và lão hóa

Ngoài vitamin C, mít còn rất giàu các chất dinh dưỡng thực vật như ignans, isoflavones và saponins. Những chất có đặc tính chống ung thư và chống lão hóa.

Tăng cường hệ thống miễn dịch

Mít rất giàu vitamin C, một loại chất dinh dưỡng giúp cơ thể chống lại virus và vi khuẩn. Vitamin C giúp tăng cường chức năng hệ thống miễn dịch bằng cách hỗ trợ chức năng của các tế bào máu trắng.

Chống lại bệnh ung thư

Ngoài vitamin C, mít còn rất giàu các chất dinh dưỡng thực vật như ignans, isoflavones và saponins. Những loại chất có đặc tính chống ung thư và chống lão hóa. Có điều này do các chất dinh dưỡng thực vật có khả năng loại bỏ các gốc tự do gây ung thư ra khỏi cơ thể và làm chậm quá trình thoái hóa của tế bào.

Giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Mít cũng chứa các chất có thuộc tính chống loét và rối loạn tiêu hóa. Không chỉ vậy, mít còn có nhiều chất xơ. Vì vậy mít giúp ngăn ngừa táo bón và đi tiêu dễ dàng hơn. Loại chất xơ này cũng có tác dụng loại bỏ các màng nhầy bám ở ruột, từ đó giúp giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột già (đại tràng).

Duy trì sức khỏe cho đôi mắt và làn da

Mít có chứa nhiều vitamin A, một loại chất dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của đôi mắt và làn da. Bên cạnh đó, mít còn có khả năng ngăn ngừa các bệnh liên quan đến mắt như thoái hóa điểm vàng và bệnh quáng gà.

Bổ sung năng lượng

Trong mít có đường fructose và sucrose, vì vậy mà nó có thể bổ sung năng lượng gần như ngay lập tức cho cơ thể. Điều tuyệt vời của mít chính là việc, nó rất giàu năng lượng nhưng lại không chứa chất béo bão hòa, cholesterol. Vì vậy, nó là loại trái cây tuyệt vời để ăn khi muốn tạo thêm năng lượng cho cơ thể.

Giảm huyết áp

Kali chứa trong mít đã được tìm thấy là hữu ích trong việc giảm huyết áp và làm giảm nguy cơ đau tim cũng như đột quỵ.

Giúp xương chắc khỏe

Mít rất giàu magiê, một chất dinh dưỡng quan trọng giúp tăng cường việc hấp thụ canxi của cơ thể. Magiê kết hợp với canxi sẽ giúp xương chắc khỏe, ngăn ngừa các rối loạn liên quan đến xương như loãng xương.

Ngăn ngừa thiếu máu
Mít cũng chứa nhiều chất sắt, vì vậy mà chúng có khả năng giúp ngăn ngừa bệnh thiếu máu. Không chỉ vậy, các thành phần có trong mít cũng giúp tăng cường việc lưu thông máu trong cơ thể.

Giúp tuyến giáp khỏe mạnh

Đồng có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa của tuyến giáp, đặc biệt trong việc sản xuất hoócmôn. Trong mít có rất nhiều loại khoáng chất này. Vì vậy mà ăn mít thường xuyên sẽ giúp bạn có tuyến giáp khỏe mạnh.

AloBacsi.vn
Theo Pháp Luật Việt Nam/TTXVN

Tràn dịch màng phổi không chỉ đơn thuần bệnh lao

Tràn dịch màng phổi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ngay cả trẻ em, nhưng với người cao tuổi thường để lại hậu quả xấu nặng nề hơn. Vì vậy, cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Ở Mỹ, hàng năm có khoảng xấp xỉ một triệu trường hợp tràn dịch màng phổi được phát hiện; ở nước ta hàng năm có khoảng 1.000 trường hợp được chẩn đoán và can thiệp.

Nhiều nguyên nhân

Màng phổi gồm lá thành và lá tạng, giữa hai lá có khoảng trống. Bình thường trong khoảng trống có một ít dịch sinh lý để làm bôi trơn khi phổi hoạt động làm cho lá thành và lá tạng chuyển động nhịp nhàng. Khi lượng dịch vượt quá chỉ số sinh lý bình thường tức là có sự bài tiết xuất hiện làm ứ đọng dịch trong khoang màng phổi đến một mức độ nhất định sẽ gây tràn dịch màng phổi.

Thực chất của tràn dịch màng phổ là biểu hiện hoặc biến chứng của nhiều loại bệnh khác nhau. Tràn dịch màng phổi có thể do viêm phổi với nhiều căn nguyên đa dạng như: do vi khuẩn họ cầu khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu), vi khuẩn Hemophilus influenzae, K.pneumoniae, Mycoplasma pneumoniae, vi khuẩn lao hoặc ung thư (phổi, di căn) hoặc một số bệnh khác.

Bệnh thường gặp nhất trong tràn dịch màng phổi là lao phổi. Tràn dịch màng phổi cũng có thể do u ác tính (các khối u lồng ngực đè vào ống ngực gây thoát dịch dưỡng trấp ra màng phổi) hoặc ung thư phổi.

Một số bệnh như: áp-xe dưới cơ hoành, áp- xe gan, xơ gan cổ trướng, viêm tuỵ tạng, viêm màng ngoài tim, suy tim sung huyết hoặc một số bệnh mạn tính như thấp khớp mạn hoăc luput ban đỏ cũng có thể gây nên tràn dịch màng phổi. Tràn dịch màng phổi có thể do u nang buồng trứng ở nữ giới (hội chứng Meigs).

Chấn thương lồng ngực hoặc sau phẫu thuật lồng có thể gặp tràn dịch màng phổi tuy rằng tỉ lệ gặp rất hiếm. Ngoài ra, tràn dịch màng phổi có thể do một số bệnh bởi ký sinh trùng gây nên (lỵ amíp, giun chỉ, sán lá gan).

Nhận biết tràn dịch màng phổi

Đau ngực là triệu chứng khởi đầu của tràn dịch màng phổi. Đau thường âm ỉ phía bên tràn dịch, nếu nằm nghiêng về phía bên đối diện thì sẽ đau tăng lên. Khó thở cũng là một triệu chứng thường gặp. Khó thở xuất hiện và mức độ khó thở tùy thuộc vào số lượng và tốc độ dịch tiết ra. Người bệnh có thể sốt. Sốt thường biểu hiện của triệu chứng nhiễm trùng và là phản ứng của cơ thể.

Nếu tràn dịch màng phổi xẩy ra ở người có tuổi, sức yếu hoặc bệnh hiểm nghèo thì thân nhiệt tăng lên không nhiều hoặc có khi không tăng lên (không sốt). Ho khan cũng có thể xuất hiện nhưng ho khan với số lần nhiều hay ít cũng như sốt cao hay sốt vừa còn tùy thuộc vào căn nguyên gây bệnh (viêm phổi do vi sinh vật, lao phổi thì ho nhiều hơn các bệnh như: áp-xe gan, áp-xe cơ hoành…).

Để chẩn đoán, ngoài các triệu chứng lâm sàng thì cần chụp X-quang phổi, hoặc chụp CT, cộng hưởng từ (MRI) phổi, gan mật và các cơ quan nghi bị bệnh gây tràn dịch màng phổi. Hiện nay, siêu âm là một phương pháp khá phổ biến để phát hiện tràn dịch màng phổi.

Nếu có điều kiện thì cần chọc dò màng phổi để xét nghiệm, quan sát màu sắc, tính chất của dịch tiết và xét nghiệm tế bào học, vi sinh, ký sinh. Xét nghiệm dịch màng phổi cũng có thể tìm thấy hồng cầu trong đó, nếu có hồng cầu có thể là nguyên nhân do ung thư phổi hoặc sau nhồi máu phổi. Trong những trường hợp cần thiết, người ta cần phải sinh thiết màng phổi để xác định nguyên nhân.

Nguyên tắc điều trị và dự phòng

Tràn dịch màng phổi có nhiều bệnh khác nhau, trong đó có những bệnh rất phức tạp như ung thư phổi, u ác tính các cơ quan lân cận, xơ gan, suy tim, suy thận. Vì vậy, khi thấy đau tức ngực, khó thở, sốt và các bất thường khác…cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt, nhất là ở người tuổi đã cao, sức khỏe đã suy giảm hoặc đã có tiền sử mắc các bệnh về phổi (lao phổi, viêm phổi, gãn phế quản), bệnh gan, bệnh tim.

Mỗi một loại bệnh khi xác định được và điều trị thì hầu hết bệnh sẽ ổn định, khỏi. Tuy vậy, sau tràn dịch màng phổi còn phải được theo dõi và điều trị tránh dày dính màng phổi ảnh hưởng rất lớn đến chức năng hô hấp. Hiện nay việc điều trị tràn dịch màng phổi có nhiều tiến bộ với kỹ thuật phẫu thuật nội soi.

Những người đang mắc bệnh lao thì cần điều trị thật tích cực, tuân thủ theo chỉ định điều trị của bác sĩ, không nên chủ quan, không được bỏ thuốc đang điều trị và cần có chế độ dinh dưỡng cũng như tập luyện một cách hợp lý để giữ gìn và nâng cao sức khỏe chống lại bệnh tật. Những người đã từng mắc bệnh lao đã điều trị khỏi cũng rất cần đi khám bệnh theo định kỳ để được theo dõi một cách nghiêm túc đề phòng bệnh tái phát.

Để tránh mắc các bệnh về phổi, áp-xe gan do vi khuẩn hoặc do ký sinh trùng thì cần có một môi trường sống tốt. Vì vậy, cần thực hiện vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Cần ăn chín, uống chín, không ăn các loại thực phẩm chưa nấu chín (tiết canh, gỏi cá, nem chua, nem chạo, rau sống). Không hút thuốc lá để phòng các bệnh về đường hô hấp. Cần rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Cần vệ sinh họng, miệng, răng thật sạch hàng ngày bằng hình thức đánh răng, súc họng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy.

AloBacsi.vn
Theo TTƯT.PGS.TS Bùi Khắc Hậu - Sức khỏe và Đời sống