Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Chia sẻ thầm kín của một phụ nữ trẻ mắc bệnh ung thư vú

Nỗi đau đớn hiển hiện như một cơ thể sống, nhưng luôn bị rất nhiều phụ nữ Việt Nam chôn chặt, cố gắng giấu diếm và đối đầu với nó trong đơn độc, tối tăm.


LTS: Trên facebook của chị, chị viết rằng “nhắc nhau về phòng tránh và phát hiện sớm ung thư vú. Chỉ vậy thôi nhưng đã là một cách yêu thương hơn người phụ nữ của mình rồi”.


ung thư vú

Chị là Nguyễn Khánh Thương, sinh năm 1982. Ở tuổi 20, chị được biết đến như là một trong những thủ lĩnh của những hoạt động tình nguyện trong cả nước; sau là giảng viên khoa báo chí trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.

Thương mắc ung thư vú giai đoạn 4 sau lễ ăn hỏi ít ngày. Lúc đó chị mới qua sinh nhật tuổi 30 ít tháng. Không có triệu chứng gì đặc biệt, ngoài triệu chứng sưng nhẹ ở giữa cẳng tay, chị đã mất rất nhiều thời gian đi khám ở nhiều bệnh viện mới có chẩn đoán chính xác.

Quá trình tìm hiểu về bệnh tật và điều trị khiến chị nhận ra rằng, những phụ nữ mắc bệnh ung thư vú thiếu thốn các hỗ trợ về thể chất lẫn tinh thần; còn phụ nữ Việt Nam nói chung thiếu thốn thông tin giáo dục về căn bệnh một cách nghiêm trọng. Đó là lý do thúc giục chị thành lập Mạng lưới ung thư vú Việt Nam. Qua đó, đã có hàng trăm phụ nữ được tiếp cận với bài tập phục hồi chức năng sau mổ, tóc giả trong khi truyền hóa chất, những thông tin về quản lý tác dụng phụ…

Dưới đây là một tâm sự rất thật và sâu kín của Thương về căn bệnh của mình, với mong muốn hỗ trợ được nhiều hơn những phụ nữ không may mắc bệnh ung thư vú, cũng như là một “sợi chỉ” kết nối yêu thương hơn của xã hội với những khó khăn mà người mắc bệnh phải trải qua.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
----

ung thư vú


Chia sẻ thầm kín của một phụ nữ trẻ mắc bệnh ung thư vú (phần 1)

Dịch xong một bài báo về 1 công bố nghiên cứu thuốc mới trong điều trị ung thư vú, tôi quay ra chia sẻ với chồng: “Em vừa dịch một bài về thuốc mới trong điều trị ung thư vú. Nhưng thuốc này không dành cho em vì trong bài nói rằng thuốc phát huy tác dụng tốt đối với phụ nữ mắc ung thư vú hậu mãn kinh (post-menapause). Chồng thản nhiên: em là phụ nữ hậu mãn kinh mà.

Tôi ngẩn ngơ mất một lúc. Chồng nói đúng. Chồng nói sự thật. Tôi quên mất là mình đang sống cuộc sống thể chất và cả tâm lý của một phụ nữ ngũ tuần chứ không phải một cô gái mới ngoài 30 tuổi. Ung thư vú không chỉ cắt ngắn cuộc đời của tôi, mà đánh cắp trải nghiệm đẹp đẽ nhất của đời người, cướp đi cơ hội làm mẹ và bắt tôi chứng kiến rất nhiều tổn thương và mất mát của chính tôi và của những người xung quanh.

Những điều tôi sắp nói có lẽ là nỗi niềm của nhiều phụ nữ Á đông mắc ung thư vú lúc tuổi đời còn trẻ. Tôi không chia sẻ để thoả mãn sự tò mò của đám đông hay khi chồng tôi không phải là đàn ông Việt. Tôi cũng chẳng lên tiếng để gây sốc hay tìm kiếm danh tiếng, khi thực tế là chưa có một phụ nữ Việt nào lại "bô bô" kể ra những khổ sở và buồn đau sâu kín của mình và rất dễ dàng bị quy kết vạch áo cho người xem lưng.

Tôi chia sẻ chân thành để bạn tự có câu trả lời và suy ngẫm riêng mình về những nỗi đau có thật của những người phụ nữ trẻ mắc ung thư vú. Nỗi đau đớn hiển hiện như một cơ thể sống, nhưng luôn bị rất nhiều phụ nữ Việt Nam chôn chặt, cố gắng giấu diếm và đối đầu với nó trong đơn độc, tối tăm.

Và để một lúc nào đó, một ngày nào đó bạn sẽ thông cảm và yêu thương được những phụ nữ phải chiến đấu với căn bệnh như tôi, ở giai đoạn như tôi và yêu lấy mình để không bao giờ phải kinh qua những đoạn trường gian khó ấy.

Ung thư vú đã làm gì cơ thể, tâm hồn tôi?

Thuốc nội tiết điều trị ung thư vú làm tôi tắt kinh nguyệt hơn 1,5 năm nay. Trải qua mọi triệu chứng mãn kinh, tôi hiểu hơn những lúc khó ở của mẹ mình. Tôi mắc chứng hay quên hoặc bị tật nói nhịu. Ví dụ, đầu thì nghĩ muốn ăn cơm mà miệng thì nói ra là mình thèm phở. Chuyện này xảy ra hàng ngày, có ngày vài bận. Hoặc nói đi nói lại một việc không biết bao nhiêu lần mà vẫn cứ đinh ninh là mình chưa nói lần nào cả hoặc quên biến một việc đã hứa.

Thuốc nội tiết cũng khiến nhu cầu tình dục tắt ngấm. Bộ phận sinh dục vì thế cũng khô hạn như một hệ quả tất yếu. Việc chẳng hòa hợp và cân bằng nhu cầu tình dục trong đời sống lứa đôi có thể là một mâu thuẫn âm ỉ làm tổn thương lẫn nhau, và nghiêm trọng hơn nó làm một tổ ấm có thể rạn nứt và đổ vỡ.


ung thư vú


Tôi phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú tháng 4.2014. Phụ nữ nhìn cơ thể tôi chắc cũng còn cám cảnh, nói gì đến đàn ông. Phải mất hơn 2 tháng kể từ lúc mở băng vết mổ, tôi mới thấy hết sợ hãi những vết sẹo trên ngực mình. Tôi mới vượt qua được cảm giác mình thật xấu xí và mới ngừng hỏi chính mình rằng, tôi có còn là phụ nữ không?

Điều trị ung thư vú đã di căn khiến toàn bộ xương cốt, cơ khớp bị tổn thương, đau đớn. Nói cách khác, tôi sẽ đồng phải sống chung, phải làm bạn với những đau đớn bất tận về thể xác. Và vì thế đừng ngạc nhiên, khi bạn nghe thấy một bệnh nhân ung thư than thở họ thèm chết hoặc muốn chết cho xong. Những lúc đau quá mà thuốc giảm đau không giúp được nhiều, thì ý nghĩ giá mà chết đi được cho đỡ nhọc xác, đỡ đau đớn, đỡ khổ cho người thân lại có dịp xuất hiện. Điều đó cũng hết sức bình thường.

Tôi uống 3 liều giảm đau hàng ngày, mỗi liều có tác dụng trong vòng 8 tiếng để tôi vẫn có thể sống, sinh hoạt như một người bình thường. Nên nếu bạn thấy cũng một người bệnh ung thư di căn nhưng tươi tỉnh, khỏe khoắn như người bình thường thì cũng đừng mặc định rằng họ chẳng sao cả.

Hàng đêm, tôi mất ngủ vì lúc thì quá nóng, mồ hôi toát ra, cả người hầm hập. Nhưng được một lát thì cả cơ thể co lại dúm dó vì lạnh. Thuốc ngủ chẳng xi-nhê gì. Đêm nào ngủ được 3-4 tiếng là đêm đó thấy vui. Mỗi sáng thức dậy đỡ cảm thấy kiệt quệ năng lượng, cả ngày bớt dật dờ như xác chết. Rồi chỉ cần ăn uống thay đổi nho nhỏ là táo bón, nào thì tiêu chảy, nào thì mất hết cả vị giác, lẫn nhu cầu thèm ăn, thèm uống… nào là ăn vào lại muốn nôn sạch ra, nhai thức ăn mà như một cực hình…khi truyền hóa chất.

Rồi tóc rụng. Cái đầu trọc lốc tố cáo rằng: tôi đang bị ung thư. Da dẻ nhăn nheo, cháy xạm, khuôn mặt tiều tụy, hốc hác và mệt mỏi vô cùng. Nói trắng ra, tôi là một phụ nữ không đủ khả năng làm vợ, làm mẹ. Với nhiều phụ nữ, rơi vào cảnh như thế thì chết cho rồi, sống sao nổi. Với nhiều đàn ông nhìn vào tôi thì sẽ tự hỏi, mình làm yêu sao mà được 1 phụ nữ như thế…

(còn tiếp)

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

Ung thư vú phát triển nhanh vì sữa đậu nành

Phát hiện của nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi ở một số gen nhất định có vai trò làm khối ung thư vú phát triển nhanh hơn ở những phụ nữ đã ăn đậu nành.


ung thư vú

Nghiên cứu mới của Trung tâm Nghiên cứu ung thư Memorial Sloan Kettering (Mỹ) đã chỉ ra rằng việc ăn các thực phẩm từ đậu có thể khiến khối ung thư vú lan nhanh hơn.


Nghiên cứu mới của Trung tâm Nghiên cứu ung thư Memorial Sloan Kettering (Mỹ) đã chỉ ra rằng việc ăn các thực phẩm từ đậu có thể khiến khối ung thư vú lan nhanh hơn. Nghiên cứu tiến hành đối với 140 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú.

Những người tham gia được chia thành hai nhóm: nhóm 1 ăn bột protein đậu nành có chứa genistein, nhóm 2 ăn 1 loại giả dược trong vòng từ 7 - 30 ngày trước khi họ làm phẫu thuật cắt bỏ khối u.

Các nhà khoa học phân tích, so sánh một khối u trước và sau khi phẫu thuật. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi ở một số gen nhất định có vai trò làm khối ung thư vú phát triển nhanh hơn ở những phụ nữ đã ăn đậu nành.

Trong số 20% bệnh nhân có lượng genistein cao, chỉ có 1 số nhỏ gặp phải thay đổi nhiễm sắc thể làm tăng khả năng phát triển khối u. Tuy nhiên, nếu lượng đậu tiêu thụ khoảng 51,6g - tương đương với 4 cốc sữa đậu nành mỗi ngày thì nguy cơ này tăng lên rất cao.

Tiến sĩ Jacqueline Bromberg - đồng tác giả nghiên cứu cho biết: Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra mối lo ngại cho bệnh nhân ung thư vú khi ăn thực phẩm từ đậu”.

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Cách phát hiện sớm ung thư dạ dày

Cách phát hiện sớm ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam, đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư. Ung thư dạ dày gặp ở người lớn và mọi lứa tuổi nhưng hiếm khi gặp ở người dưới 50 tuổi, ở nam nhiều hơn ở nữ.


Ung thư dạ dày là gì?


Ung thư là bệnh của các tế bào cơ thể. Bình thường các tế bào trong cơ thể phân chia theo trình tự nhất định. Tuy nhiên đôi khi vài tế bào phân chia bất thường và phát triển thành khối u. Khối u có thể là lành tính (không phải là ung thư) hoặc là ác tính (là ung thư).

Khối u ác tính gồm các tế bào ung thư. Nếu không được điều trị, các tế bào này sẽ xâm lấn và phá hủy các mô xung quanh. Các tế bào ung thư thường tách khỏi ung thư ban đầu và đến các cơ quan khác. Khi những tế bào này đến vị trí mới, chúng tiếp tục phát triển thành khối u, khối u này được gọi là di căn. Ung thư dạ dày hay đi theo đường hệ thống bạch mạch để đến các bộ phận khác của cơ thể.

Nguyên nhân gây bệnh ung thư dạ dày


Các nguyên nhân gây ung thư dạ dày vẫn chưa được biết chính xác. Ở những người có tiền sử loét dạ dày và từng bị thiếu máu ác tính thì có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày.

Triệu chứng thường không đặc hiệu


Các triệu chứng của ung thư dạ dày thường là mơ hồ và không đặc hiệu. Hay gặp nhất là chứng khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ, chướng bụng, ợ hơi, buồn nôn, chán ăn. Những triệu chứng này dễ bị bỏ qua nhưng bạn phải đi khám nếu các triệu chứng này kéo dài hơn 2 tuần. Các biểu hiện khác có thể là: nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng hoặc đi ngoài phân đen.

Để chẩn đoán bệnh cần làm gì?


- Bác sĩ hỏi bệnh và khám bệnh kĩ càng.

- Chụp phim Xquang dạ dày dùng thuốc cản quang.

- Nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi.

- Khi một người bệnh được chẩn đoán là ung thư dạ dày thì cần làm thêm một số xét nghiệm nữa để đánh giá sự phát triển của ung thư đến các cơ quan khác. Điều này giúp cho bác sĩ đưa ra cách điều trị tốt nhất. Đó là các xét nghiệm chụp cắt lớp vi tính và siêu âm.

Các phương pháp điều trị


Ung thư dạ dày có thể được điều trị bằng các phương pháp: phẫu thuật, hóa trị liệu và tia xạ.

Phẫu thuật:

Phương pháp điều trị đầu tiên và chủ yếu đối với các ung thư dạ dày giai đoạn sớm là phẫu thuật: cắt bỏ một phần hay toàn bộ dạ dày. Sau 5 ngày bệnh nhân đã có thể uống và ăn trở lại. Sau phẫu thuật 10-14 ngày, bệnh nhân có thể ra viện.

Những trường hợp ung thư giai đoạn cuối có thể: Phẫu thuật tạm thời, nhằm lập lại lưu thông của đường tiêu hóa, kéo dài cuộc sống cho người bệnh.

Hóa chất trị liệu:

Đây là phương pháp điều trị bằng các thuốc chống ung thư đặc biệt. Các thuốc này thường được dùng phối hợp với nhau trong một tuần, sau đó nghỉ thuốc 2 hoặc 3 tuần rồi lại dùng tiếp. Nếu ung thư ở giai đoạn sớm, hóa trị liệu dùng để hỗ trợ cho phẫu thuật, tia xạ hoặc cả hai, nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể để tránh tái phát ung thư dạ dày sau này.

Hóa trị liệu sẽ có một số tác dụng phụ nhưng các tác dụng phụ này là tạm thời và có thể làm giảm được.

Điều trị bằng tia xạ:

Biện pháp này dùng các tia phóng xạ để diệt các tế bào ung thư. Các tia phóng xạ này được tính toán chính xác trên vị trí của ung thư để giảm tác hại đối với các mô lành. Trong ung thư dạ dày, điều trị bằng tia xạ sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào ung thư dạ dày còn sót lại. Điều trị bằng tia xạ có thể được dùng cùng với hóa chất trị liệu để làm nhỏ khối u và làm giảm các triệu chứng.

Nhật Bản là nước có tỉ lệ ung thư dạ dày cao trên thế giới, đã thành công trong chương trình phát hiện sớm để phẫu thuật có hiệu quả cao, đạt tới 80% số bệnh nhân sống sau 5 năm. Cả thế giới công nhận và áp dụng kĩ thuật đó. Việt Nam cũng là nước có tỉ lệ mắc cao, cần thiết phải hiểu biết để có sự quan tâm thích đáng tới bệnh ung thư dạ dày.

Trắc nghiệm nhận biết dấu hiệu ung thư vú

Nếu sờ thấy một cục cứng trong bầu ngực, da vùng này bị lõm, nhăn, đầu vú có tiết dịch... nguy cơ bạn bị ung thư vú khá cao, nhất là khi bạn trên 40 tuổi.

Bài trắc nghiệm nhỏ dưới đây từ Sheknows sẽ giúp bạn tự kiểm tra vú và biết khi nào cần đi khám chuyên khoa để xác định xem mình đã bị ung thứ vú hay chưa?

 

1. Khi tự kiểm tra ngực hằng tháng, bạn cảm thấy:

a. Không có thay đổi nào đáng chú ý
b. Có một cục nhỏ ở một bên ngực
c. Một bên ngực thay đổi rất lớn về kích thước và hình dáng

2. Khi kiểm tra núm vú, bạn thấy:

a. Không có gì khác so với lần kiểm tra tháng trước
b. Nó hơi đau nhưng đó là tuần trước khi bạn "bị"
c. Có tiết dịch như chảy mủ

3. Gần đây, bạn từng trải qua cảm giác đau ngực:

a. Bắt đầu sau khi bạn tập một loạt động tác mới tác động đến ngực
b. Ở một vị trí và dường như không mất đi
c. Chỉ hơi đau thôi nhưng kèm với nó là cảm giác hơi sưng ở một bên ngực

4. Bạn chắc chắn không có một khối cứng có thể sờ thấy được hay một khối u trong ngực:

a. Và không có sự thay đổi đáng chú ý nào nữa
b. Cả hai bên ngực bạn đều sưng
c. Nhưng bạn thấy có vết lõm, nhăn nhúm trên da và một vết nứt trên núm vú

5. Khi nhìn vào ngực mình, bạn thấy:

a. Không có gì thay đổi về màu sắc da, độ săn chắc và trạng thái như bình thường
b. Da khô, có những vết nhám ở ngực
c. Có nốt mụn, tróc vảy, ngứa ở một bên núm vú và rỉ dịch.

Nếu câu trả lời của bạn chủ yếu là a: Ngực bạn có vẻ bình thường và bạn không thấy có bất cứ thay đổi nào đáng chú ý, chứng tỏ bạn không mắc ung thư vú. Đây là một kết quả tốt nhưng bạn đừng quên tiếp tục tự kiểm tra ngực hằng tháng và nên đi khám định kỳ hay chụp X quang để phát hiện khối u ở ngực nếu bạn 40 tuổi trở lên.

Nếu câu trả lời của bạn chủ yếu là b: Những thay đổi đáng lưu ý như một cục cứng nhỏ, cảm giác đau ở ngực hay đầu vú tiết dịch có thể là dấu hiệu của ung thư vú, nhưng chúng cũng có thể liên quan đến sự thay đổi hoóc môn trong cơ thể bạn. Chẳng hạn, sự tiết dịch ở đầu vú có thể do ảnh hưởng của sự thay đổi nội tiết, mang thai và cho con bú. Cơn đau ngực cũng có thể liên quan đến việc khối u trong ngực bạn bắt đầu phát triển nhưng có khi đó chỉ là dấu hiệu bạn sắp đến ngày đèn đỏ hay do tác động của lần "yêu" gần đây.

Bất kể là vì lý do gì, bạn nên đi khám để xác định rõ nguyên do của các triệu chứng bất thường và tìm cách điều trị phù hợp nếu có bệnh.

Nếu câu trả lời của bạn chủ yếu là c: Những thay đổi bất thường ở ngực của bạn là các dấu hiệu cảnh báo bạn có thể mắc ung thư vú. Bạn nên đi khám ngay lập tức để được bác sĩ tư vấn, làm các xét nghiệm cần thiết và nếu cần, chụp Xquang vú để kiểm tra chính xác bệnh. Nếu bạn mắc ung thư vú, việc chữa trị sẽ đơn giản và khả năng thành công cao hơn nếu ở giai đoạn sớm.

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

Tầm soát để phát hiện sớm ung thư vú

Ung thư vú là một trong những ung thư hàng đầu của phụ nữ. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 1,1 triệu trường hợp ung thư vú mới được phát hiện.


Tại Việt Nam, ung thư vú chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại ung thư của phụ nữ, cứ 100.000 dân có 30 người mắc bệnh nan y này.


Trong chiến lược phòng chống ung thư vú thì việc phòng ngừa và phát hiện sớm đóng một vai trò quan trọng. Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu phát hiện sớm thì việc chữa bệnh ung thư vú sẽ dễ dàng và kết quả tốt hơn, tiết kiệm chi phí. Vậy, làm thế nào để phát hiện sớm ung thư vú?

Trong ngành ung thư, phát hiện bệnh thật sớm khi chưa có triệu chứng, gọi là tầm soát bệnh. Vấn đề đặt ra là phải có phương tiện để phát hiện bệnh thật sớm. Hiện các phương tiện này là nhũ ảnh, siêu âm vú, tự khám vú và đi khám tuyến vú tại các cơ sở y tế.


ung thư vú

Chụp nhũ ảnh là dùng máy phát ra tia X chụp hình ảnh của tuyến vú để phát hiện những tổn thương. Lượng tia X phát ra từ máy rất nhỏ nên tương đối an toàn. Đây là phương tiện duy nhất được chứng minh có hiệu quả trong việc tầm soát ung thư vú. Ưu điểm của phương tiện này là phát hiện những tổn thương ung thư vú còn rất sớm, biểu hiện bằng những đốm vôi nhỏ trong tuyến vú. Khi phát hiện, bác sĩ chuyên khoa sẽ có kỹ thuật để lấy chính xác những tổn thương này ra và đem đi xét nghiệm để xác định có phải là ung thư hay không.

Phụ nữ từ 50 tuổi trở lên nên chụp nhũ ảnh mỗi năm 1 lần để tầm soát ung thư vú. Nếu có điều kiện, nên chụp nhũ ảnh sớm hơn, bắt đầu từ 40 tuổi trở lên. Đây là độ tuổi có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao. Hơn nữa, tuyến vú của người phụ nữ không còn dày như khi còn trẻ nên nhũ ảnh mới khảo sát được dễ dàng.

Siêu âm cũng có vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh và phát hiện sớm ung thư vú. Tuy nhiên, siêu âm có nhược điểm là phụ thuộc vào khả năng của người đọc (các bác sĩ siêu âm có tay nghề khác nhau nên có thể có những chẩn đoán khác nhau trên cùng một người bệnh) và không phát hiện những tổn thương rất sớm của ung thư vú dạng đốm vôi nhỏ.

Do đó, ở những nước phát triển, siêu âm dùng chẩn đoán bệnh và phát hiện sớm ung thư vú chứ không đưa vào các chương trình tầm soát ung thư vú. Nhưng ở nước ta, siêu âm lại rất có giá trị trong chẩn đoán sớm vì thực tế phần lớn phụ nữ thường đến khám bệnh khi đã sờ thấy bướu nên có thể khảo sát dễ dàng bằng siêu âm. Mặt khác, tỷ lệ bệnh nhân ung thư vú trẻ tuổi khá cao, tuyến vú còn dày nên siêu âm có hiệu quả hơn nhũ ảnh.

Tự khám vú là phụ nữ tự khám tuyến vú của mình mỗi tháng để phát hiện những bất thường nếu có, từ đó sẽ đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa và làm các xét nghiệm nếu cần. Mọi phụ nữ nên tự khám vú mỗi tháng khi bước vào tuổi 20. Bên cạnh đó, nên đến khám vú tại cơ sở y tế chuyên khoa mỗi 3 năm. Tại đây, cán bộ y tế sẽ khám tuyến vú và tư vấn những kiến thức cần thiết về bệnh lý tuyến vú và ung thư vú. Với những bác sĩ có kinh nghiệm thì kỹ thuật này có thể cho độ chính xác đến 90%.

Tuy ung thư vú là một loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ (chiếm 1,6% nguyên nhân gây tử vong ở phụ nữ) nhưng là loại bệnh lý có khả năng chữa khỏi cao. Khả năng chữa khỏi bệnh càng cao nếu phát hiện bệnh sớm bằng các phương tiện, phương pháp nói trên.

5 loại thực phẩm gây ung thư hàng đầu cần tránh

Hãy cùng xem các loại thực phẩm có thể thúc đẩy bệnh ung thư, để bạn biết được cái gì nên và không nên ăn (hay ít nhất là hạn chế ăn chúng).

Thực phẩm chế biến sẵn

Có rất nhiều hợp chất khác nhau chứa trong các thực phẩm chế biến sẵn, như chất tạo màu, hương liệu, muối, đường hay chất tạo ngọt nhân tạo. Những phụ gia này đã được các chuyên gia nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm ra chất nào thực sự gây hại.

Một nghiên cứu dịch tễ học được công bố trên tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Mỹ cũng chỉ ra rằng, chế độ ăn nhiều muối làm tăng 10% nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày. Ngoài ra, màu thực phẩm nhân tạo cũng mang lại nhiều mối nguy hại cho sức khỏe. Nghiên cứu về chất tạo màu nhân tạo và ung thư trên chuột cho thấy, loại chất này đủ độc hại để gây ra bệnh ung thư cho con người.

Thịt đỏ, thịt chế biến sẵn hay thức ăn bị cháy


Nghiên cứu chỉ ra rằng, bệnh ung thư ruột và dạ dày thường gặp ở những người ăn nhiều thịt đỏ và thịt chế biến sẵn. Thịt đỏ bao gồm tất cả các loại thịt bò, thịt lợn, thịt cừu, thịt bê tươi, xay, đông lạnh. Các loại thịt chế biến sẵn cũng mang lại nguy cơ mắc ung thư.

Khi bạn ăn các loại thịt chế biến sẵn, bạn đã gần như chắc chắn tiêu thụ natri nitrit hoặc muối natri (natri nitrat), những chất được thêm vào nhằm giữ màu sắc và tuổi thọ thịt lâu dài. Thật không may, các hợp chất này có thể chuyển hóa thành nitrosamine, chất gây ung thư ở chuột trong phòng thí nghiệp (mặc dù có mối liên hệ không rõ ràng với người).

Các loại xúc xích, thịt hun khói cũng tương tự như vậy, và còn có thể được bảo quản bằng các phương pháp hun khói hay ướp muối, làm tăng nguy cơ tiếp xúc với các hóa chất gây ung thư.

Ngoài ra, thức ăn cháy cũng tạo ra các hóa chất có thể gây hại tới các tế bào, gây nhiều khả năng ung thư. Dó đó, cách bạn chế biến thịt cũng có thể tạo ra các nguy cơ lớn gây ung thư.

Đường


Có rất nhiều trang web nói về vấn đề đường “thúc đẩy” bệnh ung thư. Họ cho rằng, ăn các loại thực phẩm chứa đường khiến ung thư phát triển nhanh hơn. Bởi vậy, nhiều bệnh nhân ung thư tránh ăn bất cứ thực phẩm nào chứa đường, và loại bỏ các loại thực phẩm cơ lợi như trái cây, chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết.

Tuy nhiên không có bất cứ kết luận nghiên cứu nào trên người chúng minh rằng đường khiến các tế bào ung thư phát triển. Tránh các loại thực phẩm với đường chế biến là một ý kiến tốt, nhưng loại bỏ các loại thực phẩm chứa đường tự nhiên sẽ không ngăn cản tế bào ung thư phân cai. Tất cả các tế bào, bao gồm cả tế bào ung thư, đều tiếp nhận năng lượng từ lượng đường trong máu. Nhưng (glucose). Nhưng việc thêm bớt đường ở các tế bào ung thư không ảnh hưởng tới tốc độ phát triển của chúng.

Mối liên hệ giữa đường và ung thư, theo Hiệp hội ung thư Canada, ăn nhiều thực phẩm chứa đường khiến bạn tăng cân. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tăng cân, hay béo phì, làm tăng nguy cơ ung thư. Điều này là do béo phì có thể gây ra những thay đổi trong nồng độ hormone hoặc insulin, điều này có thể tăng nguy cơ phát triển ung thư vú, ruột kết hay tử cung.

Do đó, hạn chế lượng đường trong chế độ ăn là rất quan trọng. Chế độ ăn nhiều đường và tinh bột tinh chế có thể khiến tăng cân và béo phì, những nguyên nhân trực tiếp làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư.

Đường có thể có trong không chỉ các loại thực phẩm như bánh quy, bánh ngọt, nước ngọt,... mà còn có cả trong nước sốt mì ống, salad và rau quả đóng hộp. Bởi vậy khi đọc thành phần thực phẩm, hãy nhìn vào danh sách thành phần đường trước tiên, và hãy cảnh giác với các tên gọi khác của đường như: fluctose, lactose, sucrose, maltose, glucose, dextrose.

Đường tự nhiên như mật ong, xi rô trái cây,... có chứa các chất chống oxy hóa có lợi, nhưng chúng cũng nên được sử dụng ở mức độ vừa phải.


Thực phẩm chiên


Khoai tây chiên hay các loại thức ăn nhẹ khác có thể chứa hàm lượng acrylamide cao, một hợp chất gây bệnh ung thư được hình thành khi thực phẩm được đun nóng ở nhiệt độ cao, như quá trình nướng hay chiên. Acrylamide có thể được tìm thấy trong bất cứ loại thực phẩm nào được đun nóng ở nhiệt độ trên 250° F, nhưng khoai tây chiên được cho là có chứa hàm lượng cao nhất trong số các loại thực phẩm được kiểm nghiệm.

Phương pháp chế biến như chiên, nướng hay rang dễ sản sinh ra acrylamide, trong khi luộc, lò vi sóng, hấp có khả năng thấp hơn. Nấu trong thời gian dài và nấu ở nhiệt độ cao có thể tăng lượng acrylamide trong thức ăn.

Cần lưu ý rằng, việc tiêu thụ acrylamide trong thời gian dài đã gây ra khối u trong các thí nghiệm trên động vật, không khi phần lớn các nghiên cứu trên con người vẫn chưa tìm ra bất cứ mỗi liên hệ nào giữa acrylamide và các loại ung thư. Tuy nhiên, từ các thí nghiệm trên động vật, nhiều người tin rằng nó cũng có khả năng gây ung thư ở người. Các tổ chức về sức khỏe khuyên rằng, cách tốt nhất là ăn uống lành mạnh, hạn chế các loại thực phẩm chiên và béo.

Một hợp chất khác được tìm thấy trong loại thực phẩm này có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư là chất béo chuyển hóa, hay axit béo chuyển hóa. Chúng được hình thành khi chuyển hóa dầu lỏng thành các chất béo rắn thông qua quá trình được gọi là hydro hóa.

Thêm vào đó, chất béo chuyển hóa có thể xuất hiện ở nhiều loại thực phẩm bao gồm bơ thực vật, bánh quy, ngũ cốc, đồ nướng, kẹo, bánh ngọt, đồ ăn nhẹ, salad đóng hộp, đồ chiên, đồ béo và nhiều loại thực phẩm chế biến sẵn khác. Chất béo chuyển hóa không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tiểu đường loại 2, mà còn là nguyên nhân trực tiếp gây ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới, đứng số 1 trong các bệnh ung thư ác tính thường gặp ở nam giới Hoa Kỳ.

Viêm mãn tính đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bệnh ung thư tuyến tiền liệt, và sự kết hợp giữa chất béo chuyển hóa với viêm mãn tính có thể lý giải mối liên hệ giữa ung thư tuyến tiền liệt và việc hấp thụ axit béo chuyển hóa. Tuy nhiên vẫn cần có những nghiên cứu lâm sàng và chuyên sâu hơn để khẳng định thực tế này.

Uống nhiều rượu

Có một sự thống nhất trong khoa học về mối liên hệ giữa uống rượu và một vài loại bệnh ung thư. Người thường xuyên uống nhiều rượu trong thời gian dài, có nguy cơ mắc các bệnh ung thư do rượu cao hơn.

Theo hiệp hội nghiên cứu ung thư Anh và ung thư Hoa Kỳ, rượu có thể làm tăng nguy cơ mắc một số loại ung thư như ung thư miệng, gan, ung thư vú, ung thư cổ họng và ung thư ruột. Bạn có thể nghe về các nghiên cứu đã chứng minh rằng, các hợp chất có trong rượu vang đỏ như resveratrol có khả năng chống lại ung thư, nhưng với một sự điều độ.

Hiệp hội ung thư Mỹ khuyến cáo những người uống rượu, nên giới hạn không quá 2 ly rượu mỗi ngày với nam, và 1 ly mỗi ngày với phụ nữ.

8 loại thực phẩm phòng chống ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là loại ung thư thường gặp đứng hàng đầu trong các loại ung thư ở đường tiêu hóa. Nhiễm khuẩn Helicobacter pylori là nguyên nhân của đa số các loại ung thư dạ dày.


Bên cạnh đó chế độ ăn uống cũng liên quan đến căn bệnh này. Vậy chúng ta có thể phòng tránh căn bệnh này bằng những loại thực phẩm ăn uống hàng ngày? Dưới đây chúng tôi xin giời thiệu 8 loại thực phẩm đơn giản có thể phòng tránh được bệnh ung thư dạ dày.

1. Các loại nấm


ung thư dạ dày

Các loại nấm có tác dụng phòng tránh bệnh ung thư gồm có nấm đông cô, nấm hương, nấm kim châm và nấm mèo (mộc nhĩ). Các loại nấm này đều dễ kiếm vì nó là các loại nấm chúng ta vẫn ăn thường ngày.
Trong nấm đông cô có chứa Polysaccharides – một chất chống ung thư dạ dày và các bệnh ung thư khác một cách hữu hiệu. Chất này còn có trong mộc nhĩ đen và mộc nhĩ trắng.

Ngoài ra các chất xơ, sợi thô và can xi có trong các loại nấm cũng có tác dụng phòng tránh ung thư rất tốt, không những thế nó còn giúp nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể. 

2. Tỏi


Tỏi giúp tăng cường hệ miễn dịch và tiêu diệt chất gây ung thư. Hợp chất allium được tìm thấy trong tỏi giúp ngăn chặn chất ung thư (carcinogen)xâm nhập vào các tế bào trong cơ thể bạn và đồng thời làm chậm sự phát triển các khối u.

Tỏi được công nhận là thực phẩm chống ung thư, có tác dụng chống ung thư quan trọng. Theo điều tra dịch tễ học trên một nhóm người ăn tỏi sống, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày là rất thấp, bởi vì tỏi có thể làm giảm đáng kể hàm lượng nitrit dạ dày, giảm sự tổng hợp của amoni nitrit, do đó có tác dụng chống ung thư. 

3. Cà chua


ung thư dạ dày

Trong cà chua có chứa hàm lượng lycopene và renieratene khá lớn, những chất này đều là chất chống ô-xy hóa, đặc biệt là lycopene có tác dụng trung hòa free radical trong cơ thể, dự phòng ung thư dạ dày và ung thư các bệnh về hệ tiêu hóa rất tốt.

Ngoài ra nó còn có tác dụng hiệu quả trong phòng tránh ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt. 

4. Cà rốt


Cà rốt không chỉ tốt cho mắt mà còn rất giúp ngăn ngừa bệnh ung thư. Chất beta-carotene trong cà rốt có thể giúp giảm nguy cơ mắc các loại như ung thư dạ dày, phổi, họng, , ruột, tuyến tiền liệt và vú. 

5. Súp lơ


ung thư dạ dày

Trong súp lơ có chứa nhiều nguyên tố vi lượng molipden, chất này có khả năng ngăn chặn sự hình thành nên dicyclohexylamine nitrate – một chất gây ung thư từ đó có tác dụng phòng tránh ung thư rất hiệu quả.

Các nghiên cứu liên quan đã cho thấy, trong súp lơ còn có chứa một loại men có tác dụng kích thích hoạt động của tế bào có tên sulphide. Men này có tác dụng hạn chế sự hình thành tế bào ung thư. Ăn nhiều súp lơ sẽ giúp bạn phòng tránh ung thư thực quản và ung thư dạ dày một cách có hiệu quả. 

6. Hành tây


Ăn hành có thể làm giảm hàm lượng nitrit dạ dày, điều quan trọng là hành tây có chứa những chất của quercetin gỗ sồi, vốn là chất chống ung thư tự nhiên. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người thường xuyên ăn hành, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ít hơn những người không ăn hành tây 25%, tỷ lệ tử vong của ung thư dạ dày thấp hơn 30% 

7. Đậu phụ


Ăn đậu phụ mỗi ngày sẽ giúp giảm 90% nguy cơ ung thư dạ dày là nghiên cứu của các nhà khoa học bệnh viện Đại học quốc gia Seoul và Trung tâm kiểm soát ngăn ngừa dịch bệnh Hàn Quốc. Bí mật trong sức mạnh của đậu phụ là đậu tương, một thành phần chính có trong rất nhiều món ăn hằng ngày của người Hàn Quốc.

Các nhà nghiên cứu cho rằng chất isoflavon trong protein đậu nành đã ngăn chặn các tế bào ác tính phát triển cũng như gây ra cơ chế tự hủy ở các tế bào này. Họ cũng ghi nhận là isoflavon giúp kiềm chế khuẩn helicobacter pylori, vốn gây ra ung thư dạ dày. Để ngừa ung thư, các nhà nghiên cứu khuyên những người hay ăn thực phẩm muối nên ăn nhiều hơn 1 bát cơm đậu nành và 1 khẩu phần đậu phụ mỗi ngày. Nghiên cứu cũng cho thấy đậu nành giúp giảm nguy cơ ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt. 

8. Mầm cải xanh


ung thư dạ dày

Nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy, ăn 70g mầm cải non hàng ngày có thể ngăn ngừa bệnh viêm, loét dạ dày, thậm chí là ung thư dạ dày. Theo các nhà khoa học, trong mầm cải tươi có chứa nhiều chất sulforaphane, một hóa chất sinh học tự nhiên, sản xuất ra các enzyme chống lại quá trình ô xy hóa, các hóa chất phá hủy DNA và các chất gây viêm sưng. “Chúng tôi đã xác minh được lợi ích từ ăn mầm cải hàng ngày. Nó giúp bảo vệ dạ dày, kể cả việc chống lại bệnh ung thư” – Jed Fahey, nhà dinh dưỡng sinh hóa tại Trung tâm nghiên cứu Ung thư ở trường ĐH Y khoa Johns Hopkins cho biết. 

Theo các nhà khoa học, mầm cải xanh có nhiều chất sulforaphane hơn cả bông cải, khi các nhà khoa học cho 25 người bị nhiễm vi khuẩn trên ăn mầm cải vào thì trong cơ thể họ có đủ lượng enzyme để loại bỏ sự viêm nhiễm cũng như viêm sưng và giảm được nguy cơ viêm loét gây ra bệnh ung thư dạ dày.